Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Vị tướng 3 lần tốt nghiệp thủ khoa, 11 tuổi làm đội trưởng du kích, 12 tuổi được Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tặng súng

11 tuổi đã làm đội trưởng du kích, 12 tuổi được Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tặng súng, sau này 3 lần tốt nghiệp thủ khoa ở các cơ sở đào tạo quân sự..., Thượng tướng Võ Tiến Trung có một hành trình đặc biệt từ cậu bé du kích đến vị tướng, nhà giáo và nhà nghiên cứu quân sự nổi tiếng của Việt Nam.

Quảng Ninh16/09/2026Đoàn xã Krông Búk, Đắk Lắk (Xã Krông Búk)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
Vị tướng 3 lần tốt nghiệp thủ khoa, 11 tuổi làm đội trưởng du kích, 12 tuổi được Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tặng súng

Thượng tướng Võ Tiến Trung - Vị tướng 11 tuổi đã làm đội trưởng du kích, được đích thân Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tặng súng

Thượng tướng Võ Tiến Trung sinh năm 1954, quê ở làng Quảng Đại, xã Đại Cường, huyện Đại Lộc, Quảng Nam (cũ). Ông sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Cha ông là cụ Võ Đức Dật, còn gọi là Võ Miễn, từng tham gia Ban khởi nghĩa giành chính quyền tại xã Duy Mỹ, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam trong Cách mạng Tháng Tám.

Đầu năm 1955, khi Võ Tiến Trung mới vài tháng tuổi, ông Võ Miễn - lúc đó là Bí thư Chi bộ đã tổ chức đưa hơn 50 Đảng viên có nguy cơ bị địch thủ tiêu tập kết ra miền Bắc. Không bắt được ông cùng những cán bộ cách mạng, địch quay sang bắt vợ con ông là bà Đỗ Thị Nhân và Võ Tiến Trung. Hai mẹ con bị đưa vào tù với mục đích ép bà Nhân khai nơi ở, hoạt động của chồng và những Đảng viên khác.

Bởi vậy, những năm tháng đầu đời của Võ Tiến Trung gắn với song sắt nhà tù. Nhiều thập kỷ sau, ông vẫn không quên cảnh mẹ mình bị tra tấn dã man. Theo lời kể của ông (Báo Quân đội Nhân dân đăng tải), có lần mẹ ông bị trói nằm ngửa trên ghế, hai chân buông xuống đất. Cai tù pha xà phòng bột vào một chiếc ấm lớn rồi đổ vào miệng, mũi bà. Những tên khác dùng tấm ván ép mạnh lên bụng, khiến bà chảy máu miệng, máu mũi...

Chứng kiến mẹ bị hành hạ, Võ Tiến Trung khóc thét. Những kẻ tra tấn liền trói cậu vào ghế, nhét quả chanh vào miệng rồi dùng băng dính bịt lại.

“Ngày ấy, tận mắt chứng kiến cảnh địch tra tấn mẹ tôi và các cán bộ của mình, trong lòng một đứa trẻ mới vài tuổi như tôi đã phân định rõ ràng ranh giới: Ta và địch”, Thượng tướng Võ Tiến Trung từng nhớ lại.

Chính trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, cậu bé Võ Tiến Trung sớm tham gia những công việc phục vụ cách mạng. Khoảng 6 tuổi, cậu đã làm liên lạc cho các tổ chức Đảng hoạt động bí mật trong nhà tù. Những mẩu tin, lá thư được gấp nhỏ, khi giấu trong ve áo, khi đặt trong ổ bánh mì, được cậu chuyển qua lại giữa các Đảng viên mà không để cai ngục phát hiện.

Năm 1963, khi các tù chính trị được trả tự do, Võ Tiến Trung cùng mẹ ra khỏi nhà tù. Khi ấy, cậu khoảng 9 tuổi. Sau này, ông thường nhắc lại một cách hóm hỉnh rằng tính từ lúc bắt đầu làm liên lạc trong tù, đến thời điểm được tự do, ông đã có khoảng 3 năm “hoạt động cách mạng”.

Ra khỏi nhà tù, Võ Tiến Trung tiếp tục làm liên lạc cho đội công tác xã Lộc Phước, thuộc xã Đại Cường, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam cũ. Đây cũng là thời điểm phong trào phá “ấp chiến lược” tại địa phương phát triển mạnh, cuộc đấu tranh giữa lực lượng cách mạng và đối phương ngày càng quyết liệt.

Năm 1965, Mỹ đẩy mạnh chiến tranh và đưa quân viễn chinh trực tiếp tham chiến tại Việt Nam. Cùng với ưu thế về vũ khí, phương tiện, đối phương tăng cường tuyên truyền nhằm gây tâm lý khiếp sợ trong nhân dân và lực lượng du kích. Họ quảng bá quân đội Mỹ là lực lượng hùng mạnh, hiện đại hàng đầu thế giới, gần như không thể bị đánh bại. Hình ảnh máy bay B-52 thậm chí còn xuất hiện trên các sản phẩm tuyên truyền để phô trương sức mạnh quân sự.

Những lời đồn về lính Mỹ cũng được lan truyền rộng rãi: nào là giày bọc thép, áo giáp, mũ sắt, súng đạn thông thường không thể xuyên thủng. Mục đích là gieo vào lực lượng du kích tâm lý e ngại trước một đối thủ được mô tả như “bất khả chiến bại”.

Chính trong bối cảnh ấy, cậu bé Võ Tiến Trung bắt đầu nung nấu ý nghĩ phải trực tiếp chứng minh rằng lính Mỹ hoàn toàn có thể bị đánh và bị tiêu diệt.

Tháng 5/1965, khi mới 11 tuổi, Võ Tiến Trung được cử làm Đội trưởng Đội thiếu niên du kích bí mật, vừa tham gia nhóm đánh địch, vừa hoạt động cùng nhóm địch vận. Ông cùng các thành viên Đội thiếu niên du kích bí mật gồm Võ Năm, Trần Quốc Tám, Nguyễn Tứ, Trần Quốc Dũng, Trần Hoa, Lê Phước Tiến, Lê Phước Ảnh được huấn luyện cách làm vũ khí tự tạo, sử dụng lựu đạn và súng để đánh địch. 4 thiếu niên trong Đội đã hy sinh sau đó.

Năm 1966, sau nhiều lần trực tiếp dùng lựu đạn, súng ngắn tiêu diệt lính Mỹ và lấy được vũ khí của đối phương cho du kích, Võ Tiến Trung được dự hội nghị tổng kết chiến tranh du kích Quân khu 5, rồi dự Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua Liên khu 5. Ông được tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì và cử vào Trung ương Cục miền Nam báo cáo kinh nghiệm đánh Mỹ.

Tại đây, cậu bé Võ Tiến Trung gặp “chú Trường Sơn” - bí danh của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Vị Đại tướng rất xúc động khi nghe kể về hoàn cảnh gia đình và những chiến công của cậu thiếu niên Quảng Nam.

Thấy khẩu súng K54 đeo bên người “chú Trường Sơn”, Võ Tiến Trung đặc biệt thích thú và xin được xem. Sau đó, trước khi trở về đơn vị, ông được Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tặng một khẩu súng ngắn cùng hộp kíp điện để tiếp tục chiến đấu.

Đặc biệt, năm 1969, Võ Tiến Trung phát hiện một đại đội địch gần 100 tên đang tổ chức càn quét, truy lùng cán bộ cách mạng. Sau khi báo cáo cấp trên, ông sử dụng hộp kíp điện từng được Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tặng, kết hợp với 9 quả đạn pháo 105mm và một quả đạn cối 81mm thu nhặt trước đó để tạo thành một trận địa bẫy mìn dài khoảng 200m trên tuyến đường đối phương dự kiến hành quân qua.

Khi đội hình địch lọt vào trận địa, hệ thống mìn phát nổ, gây thiệt hại nặng. Ngay sau đó, Đại đội 11, Trung đoàn 38 tổ chức xung phong, tiêu diệt gần như toàn bộ đại đội đối phương. Trong trận đánh này, Võ Tiến Trung được công nhận trực tiếp tiêu diệt 15 tên địch và được phong tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú.

Thượng tướng Võ Tiến Trung 3 lần tốt nghiệp thủ khoa

Sau khi hoàn thành chương trình phổ thông, năm 1974, Võ Tiến Trung thi vào Trường Sĩ quan Đặc công.

Những năm tháng trực tiếp chiến đấu ở chiến trường miền Nam đã giúp Võ Tiến Trung có vốn kinh nghiệm thực tế phong phú. Kết hợp kinh nghiệm ấy với kiến thức được học tại trường, ngay từ năm thứ nhất, ông đã nghiên cứu cải tiến mìn M2 thành mìn M3 có cơ cấu chống tháo.

Khi đó, lực lượng đặc công nước thường sử dụng loại mìn hẹn giờ gắn nam châm để đánh tàu địch. Tuy nhiên, sau nhiều lần bị tập kích, đối phương tăng cường rà soát thân tàu và khi phát hiện có thể tháo mìn ra trước khi phát nổ. Từ kinh nghiệm làm bẫy trong những năm chiến đấu, Võ Tiến Trung nghiên cứu bổ sung ngòi chống tháo cho mìn M2, còn gọi là “mìn rùa”. Với cơ cấu mới, nếu đối phương phát hiện và tìm cách gỡ quả mìn khỏi thân tàu, kim hỏa của ngòi chống tháo sẽ lập tức kích hoạt kíp, khiến mìn phát nổ.

Không chỉ nổi bật ở môn kỹ thuật, Võ Tiến Trung còn đạt kết quả cao ở các môn học khác. Năm 1978, ông tốt nghiệp thủ khoa, được phong quân hàm Thiếu úy và được Trường Sĩ quan Đặc công giữ lại làm giảng viên Khoa Chiến thuật.

Trong thời gian giảng dạy, Võ Tiến Trung có dịp tháp tùng Tư lệnh Binh chủng Đặc công Nguyễn Cụ, Anh hùng LLVTND Tư Cường sang Campuchia nghiên cứu tình hình chiến trường và tìm phương án tác chiến.

Trở về nước, ông xây dựng báo cáo, đề xuất phương pháp tiêu diệt các căn cứ lõm của quân Pôn Pốt. Phương án này được Bộ Tư lệnh Binh chủng Đặc công đánh giá cao, coi là kinh nghiệm điển hình. Võ Tiến Trung sau đó được yêu cầu trực tiếp báo cáo tại các hội nghị quân chính, còn nội dung nghiên cứu được bàn giao để tổ chức vận dụng trong thực tế chiến đấu.

Năm 1979, Võ Tiến Trung được thăng quân hàm Trung úy và cử đi đào tạo giáo viên chiến thuật cấp trung đoàn tại Học viện Lục quân. Sau 18 tháng học tập, ông lần thứ hai tốt nghiệp thủ khoa. Trở lại Trường Sĩ quan Đặc công, ông được bổ nhiệm làm Phó khoa Chiến thuật. Bên cạnh công tác giảng dạy, ông còn tham gia biên soạn lại các bài giảng về phương pháp tác chiến đặc công, phục vụ công tác đào tạo của nhà trường.

Năm 1985, Võ Tiến Trung chuyển về Quân khu 5, làm trợ lý Phòng Tác chiến. Sau một thời gian, ông được điều xuống đơn vị, lần lượt giữ chức Trung đoàn phó và chỉ sau khoảng 6 tháng được bổ nhiệm Trung đoàn trưởng.

Năm 1992, Võ Tiến Trung được cử theo học Khóa 13 chỉ huy - tham mưu cao cấp tại Học viện Quốc phòng. Ông tiếp tục đạt thành tích nổi bật và lần thứ ba tốt nghiệp thủ khoa. Sau khóa học, ông được bổ nhiệm Phó sư đoàn trưởng kiêm Tham mưu trưởng Sư đoàn Bộ binh 315, Quân khu 5.

Tháng 6/1995, khi đang mang quân hàm Thượng tá, Võ Tiến Trung được cử làm nghiên cứu sinh tại Học viện Quốc phòng. Từ thực tế nhiều năm chiến đấu, từng chứng kiến quân đội Mỹ sử dụng chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” và các hình thức đổ bộ gây tổn thất cho quân, dân ta, ông lựa chọn nghiên cứu đề tài “Nghệ thuật đánh địch đổ bộ đường không trong chiến dịch tiến công”.

Trong khoảng 5 năm, Võ Tiến Trung vừa đảm nhiệm công tác, vừa tiến hành nghiên cứu. Năm 2001, khi mang quân hàm Đại tá, ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ và là một trong hai nghiên cứu sinh đạt loại xuất sắc thời điểm đó.

Năm 2002, ông được bổ nhiệm làm Tham mưu phó Quân khu 5, trực tiếp chỉ huy lực lượng tiền phương của quân khu tại Gia Lai. Một năm sau, ông được cử theo học lớp chiến dịch - chiến lược tại Học viện Quốc phòng và tốt nghiệp loại giỏi vào năm 2004.

Sau khóa học, Đại tướng Phạm Văn Trà, khi đó là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, từng đề nghị Võ Tiến Trung trở lại công tác tại Bộ Tư lệnh Binh chủng Đặc công. Tuy nhiên, ông bày tỏ nguyện vọng tiếp tục gắn bó với Quân khu 5. Nguyện vọng được chấp thuận và ông được bổ nhiệm giữ chức Phó tư lệnh Quân khu 5.

Năm 2009, Thiếu tướng Võ Tiến Trung được Bộ Quốc phòng điều động ra làm Phó giám đốc Học viện Quốc phòng. Đến năm 2010, ông được bổ nhiệm làm Giám đốc Học viện Quốc phòng. Cũng trong năm này, Võ Tiến Trung được thăng quân hàm Trung tướng và được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ngày 19/12/2014, ông được thăng quân hàm Thượng tướng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn