Bài viết

VỊ TƯỚNG CỦA NHỮNG CHIẾN TRƯỜNG NÓNG BỎNG

22/10/2026Nguyễn Tấn Khải (Phường Thủ Đức)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
VỊ TƯỚNG CỦA NHỮNG CHIẾN TRƯỜNG NÓNG BỎNG

Trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, có những vị tướng mà tên tuổi gắn liền với những thời khắc quyết định của vận nước. Đại tướng Lê Trọng Tấn là một người như thế. Các đồng đội thường gọi ông là “vị tướng trận mạc”, “vị tướng tấn công”: ở đâu có chiến dịch mang tính quyết định, ở đó có ông. Từ Đường 9 – Quảng Trị năm 1972, đến cuộc hành quân thần tốc giải phóng Đà Nẵng, rồi đạo quân tiến vào Sài Gòn mùa xuân 1975, ông để lại dấu ấn của một nhà chỉ huy tài năng, quả cảm và giàu nhân cách.

Mùa hè 1972: Chiến dịch hiệp đồng binh chủng lớn nhất

Sau năm 1971, tình hình có nhiều thay đổi. Ở miền Nam, quân ngụy ngày càng suy yếu; Mỹ lúng túng, bế tắc về chiến lược lại sắp bước vào năm bầu cử tổng thống. Ta đã vượt qua thời kỳ khó khăn sau Xuân 1968, nên quyết định mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên toàn miền Nam, nhằm tiêu diệt lớn quân địch, mở rộng vùng giải phóng và làm thay đổi so sánh lực lượng. Hướng chủ yếu là Đường 9 – Trị Thiên, và Lê Trọng Tấn được giao làm Tư lệnh chiến dịch.

Đây là chiến dịch hiệp đồng binh chủng lớn nhất từ trước đến lúc ấy. Sau 34 ngày chiến đấu đầu tiên, quân ta đập tan hệ thống phòng ngự được cho là kiên cố nhất miền Nam, tiêu diệt nhiều đơn vị chủ lực ngụy, bắt hàng nghìn tù binh, thu nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh. Ngày 2 tháng 5 năm 1972, Quảng Trị trở thành tỉnh đầu tiên ở miền Nam được hoàn toàn giải phóng. Sau đó, quân ngụy được hỏa lực Mỹ chi viện mở cuộc phản công tái chiếm, và cuộc chiến đấu bảo vệ thị xã, Thành cổ Quảng Trị kéo dài 81 ngày đêm cam go, quyết liệt, thành bản anh hùng ca về lòng trung thành, trí dũng và sự hy sinh của cán bộ, chiến sĩ.

Những người từng chiến đấu dưới quyền ông kể lại rằng ông có tài đặc biệt trong tổ chức các lực lượng săn lùng xe tăng với đội hình gọn nhẹ, dùng đạn chống tăng, B40, B41 và bom mìn đánh trên các trục giao thông. Khi địch co cụm, ông chủ trương luồn sâu, “đánh nở hoa trong lòng địch”, đánh từ bên trong các sào huyệt của chúng. Ông giỏi cả tấn công lẫn vây hãm: khi địch co cụm, ông chỉ đạo cách đánh vây, ngăn, tấn, phá, triệt, diệt. Những người chứng kiến đánh giá ông không chỉ giỏi về chiến lược, chiến dịch mà còn xuất sắc trong chỉ đạo chiến thuật. Nhiều đơn vị tinh nhuệ của Mỹ và ngụy đã bị đánh bại dưới sự chỉ huy của ông trên chiến trường Trị Thiên – Huế.

Sau Hiệp định Paris: giữ vững thế trận

Do liên tục chỉ huy chiến đấu căng thẳng, sau chiến dịch ông phải ra Bắc chữa bệnh. Nhưng đến trung tuần tháng 1 năm 1973, trước lúc Hiệp định Paris được ký kết, ông lại được cử vào mặt trận Quảng Trị để chỉ huy đánh địch phá hoại Hiệp định. Khi quân ngụy lấn chiếm Cửa Việt, một số đơn vị tại chỗ nao núng, chần chừ, ông kịp thời chấn chỉnh và ra lệnh kiên quyết đánh bại, khôi phục tức khắc cảng Cửa Việt, đẩy địch về tuyến cũ. Năm 1973, ông là Phó Tổng Tham mưu trưởng kiêm Tư lệnh Quân đoàn 1; năm 1974, ông được thăng quân hàm Trung tướng.

Người vạch kế hoạch giải phóng miền Nam

Từ giữa năm 1973 đến tháng 1 năm 1975, ông được cử làm Tổ trưởng Tổ trung tâm xây dựng kế hoạch giải phóng miền Nam trong hai năm. Tổ gồm bốn người; dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, kế hoạch được dự thảo và sửa chữa, bổ sung tám lần. Tại Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng từ ngày 18 tháng 12 năm 1974 đến ngày 8 tháng 1 năm 1975, kế hoạch được hoàn chỉnh và chính thức thông qua.

Một đồng đội từng làm việc cùng ông trong tổ này nhận xét rằng ngoài cái tài, tầm nhìn chiến lược và trình độ chỉ đạo tác chiến, điều thuyết phục mọi người nhất ở ông là cái đức. Một cán bộ chủ chốt được quân đội tín nhiệm như vậy là hiếm; một nhân cách, một phẩm chất, một đạo đức như vậy lại càng hiếm. Các đồng đội còn ví ông như nguyên soái Zhukov của Hồng quân Liên Xô: khi cần một vị tướng tài để đánh những trận quyết định ở hướng chiến lược quyết định, người ta lại cử ông ra trận.

Có một chi tiết thú vị: tháng 11 năm 1974, ông làm trưởng đoàn đại biểu cấp cao của Bộ Tổng Tham mưu sang thăm hữu nghị Trung Quốc và Cộng hòa Dân chủ Đức. Chưa đầy 10 ngày sau, ông bảo các đồng chí cùng đi ở lại, còn mình đáp máy bay về thẳng Hà Nội nhận nhiệm vụ ra chiến trường. Về sau mọi người mới hiểu chuyến đi ấy còn là một “đoàn nghi binh chiến lược” nhằm đánh lạc hướng phán đoán của đối phương.

Đà Nẵng: ba ngày làm nên kỳ tích

Mùa xuân 1975, khi Tư lệnh mặt trận Văn Tiến Dũng ra tiền tuyến, Phó Tư lệnh Lê Trọng Tấn ở lại đại bản doanh trực tiếp điều hành cuộc chiến dưới sự chỉ đạo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Chiến dịch Tây Nguyên thắng lớn đã tạo ra thời cơ. Ngày 21 tháng 3 năm 1975, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương thành lập Bộ Tư lệnh và Đảng ủy Chiến dịch Huế – Đà Nẵng: Trung tướng Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, Trung tướng Chu Huy Mân làm Chính ủy. Dù cách xa hàng trăm cây số, hai người qua điện đàm nhanh chóng thống nhất: khẩn trương truy kích, kiên quyết đánh địch trên đường hành tiến, không để chúng kịp co cụm chạy về Sài Gòn. Hai hướng tấn công, từ ngoài Bắc vào và từ phía Nam ra, đã khép chặt vòng vây.

Đà Nẵng là căn cứ liên hợp quân sự với khoảng 10 vạn quân. Nếu đánh theo cách thông thường, quân ta có thể phải trả giá hàng vạn người hy sinh và bị thương, vì địch ở trong công sự còn ta đánh ngoài. Ông xin 7 ngày, rồi 5 ngày, đều không được chấp thuận; cuối cùng chỉ còn 3 ngày. Ngay cả một vị tướng tài như ông cũng phải cân nhắc, bởi đập tan 10 vạn quân trong công sự trong ba ngày không phải chuyện đùa. Nhưng ông nhận lệnh. Với sự phối hợp chặt chẽ cùng Chính ủy Chu Huy Mân và nỗ lực của Quân đoàn 2, Đà Nẵng bị đánh vỡ trong ba ngày, từ 26 đến 29 tháng 3. Chính những chuyên gia quân sự cũng phải thốt lên rằng họ “phục sát đất”.

Cuộc hành quân thần tốc về phía Sài Gòn

Ngay sau khi giải phóng Đà Nẵng, với sự nhạy cảm tình hình, ông chủ động bàn với Thường vụ Đảng ủy Bộ Tư lệnh Quân khu 5 và Quân đoàn 2, đề nghị Bộ Tổng Tư lệnh cho thành lập Cánh quân duyên hải. Thực tế chứng minh đề xuất này góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch. Trong thời gian ngắn, ông tổ chức cuộc hành quân thần tốc từ Đà Nẵng vào phía Nam, vừa đi vừa đánh, mở đường mà tiến: một đạo quân gần ba vạn người cùng hàng nghìn xe các loại vượt chặng đường gần 1.000 km, xuyên qua ba quân khu của địch, 14 tỉnh, 18 thị xã, thị trấn, vượt 50 con sông, 600 cầu lớn nhỏ, trong 18 ngày đêm.

Trên đường tiến quân, tại Phan Rang, quân ta gặp tuyến phòng ngự từ xa của địch. Sau hai ngày công kiên chưa dứt điểm, ông thức trắng đêm, sáng hôm sau triệu tập tư lệnh quân đoàn cùng các sư trưởng, nói ngắn gọn: phải đưa Sư đoàn 3 vào chiến đấu, dứt điểm trong một, hai ngày, nếu không sẽ bỏ lỡ thời cơ. Nhờ quyết tâm ấy, ngày 16 tháng 4, mặt trận Phan Rang được giải quyết, bắt sống Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, tư lệnh Quân đoàn 3 ngụy.

Ngày 22 tháng 4 năm 1975, ông được cử làm Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh, đồng thời chỉ huy Cánh quân phía Đông. Cánh quân này thần tốc tiến theo ven biển miền Trung, giải phóng Nha Trang, Cam Ranh, bắt sống tướng giặc ở Phan Rang rồi tiến về Sài Gòn, trở thành đơn vị đầu tiên cắm cờ giải phóng trên nóc Dinh Độc Lập và tiếp nhận sự đầu hàng của chính quyền Sài Gòn vào 10 giờ 45 ngày 30 tháng 4 năm 1975. Có một giai thoại vui: khi kế hoạch được vạch ra, vốn không có vai trò của Quân đoàn 2 ở hướng này, các sĩ quan tham mưu từng đùa rằng phải coi chừng “anh Tấn” đánh thêm ngoài kế hoạch, có khi lại giật cờ. Và rốt cuộc, chính Quân đoàn 2 đã bắt sống Dương Văn Minh.

Khoảnh khắc 9 giờ 30 ngày 30 tháng 4, khi Dương Văn Minh tuyên bố xin ngừng bắn để thương lượng, ông lập tức đọc lệnh ngắn gọn gồm ba điểm: đề phòng âm mưu mới của địch xin ngừng bắn; tiếp tục tấn công, không dừng lại theo kế hoạch; chú ý bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Lúc đó Bộ Tư lệnh chiến dịch chưa kịp có điện, nhưng nhờ nhạy bén chiến trường và sự đồng tâm quán triệt tư tưởng, mệnh lệnh ông ban ra giống hệt nội dung lệnh của Bộ Tư lệnh chiến dịch đến sau đó vào lúc 10 giờ 30, đúng là “ý hợp tâm đầu.”

Con người của đạo đức và sự khiêm nhường

Điều làm nên tầm vóc của Lê Trọng Tấn không chỉ là tài năng quân sự. Đồng đội nhớ mãi ông như một người có nhân cách, đạo đức hiếm có, được quân đội tin cậy hết mực. Trước chiến thắng Phan Rang, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận định rằng nếu không có Đảng, không có Bác, không có nhân dân, không có quân đội thì mỗi người chỉ là người dân nô lệ; nhưng khi làm cách mạng, cá nhân vẫn có vai trò nhất định, và Lê Trọng Tấn chính là một trường hợp tiêu biểu.

Một vị tướng chỉ huy cánh quân đầu tiên tiến vào Dinh Độc Lập, bắt sống đầu não chính quyền Sài Gòn, từng làm Tư lệnh chiến dịch Đường 9 – Quảng Trị; trong đời một người lính mà có hai chiến công như thế, đồng đội nói rằng thật xứng đáng với danh hiệu anh hùng.

Lời kết

Lê Trọng Tấn là hình ảnh của một vị tướng luôn có mặt ở nơi cam go nhất: từ Quảng Trị khói lửa 1972, đến Đà Nẵng ba ngày thần tốc, từ cuộc hành quân gần 1.000 km đến khoảnh khắc cắm cờ trên Dinh Độc Lập. Ông giỏi tấn công nhưng cũng biết vây hãm; quyết đoán nhưng cẩn trọng với từng mạng người; tài năng nhưng khiêm nhường, nặng nghĩa đồng đội. Tên tuổi ông gắn liền với những thời khắc quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ, và hình ảnh vị tướng ấy còn mãi trong lòng quân dân như một biểu tượng của trí tuệ, bản lĩnh và đạo đức người chỉ huy.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
VỊ TƯỚNG CỦA NHỮNG CHIẾN TRƯỜNG NÓNG BỎNG | Câu chuyện thời hoa lửa