Vị tướng dày dạn trận mạc và tấm lòng tận tụy với đồng đội
Thượng tướng Nguyễn Minh Châu là người chỉ huy trưởng thành qua hai cuộc kháng chiến, giữ nhiều cương vị quan trọng trong quân đội và có đóng góp nổi bật trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, bảo vệ biên giới Tây Nam và giúp nhân dân Campuchia thoát họa diệt chủng. Gần 50 năm hoạt động cách mạng, đồng chí luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân năm 2010.
Thượng tướng Nguyễn Minh Châu là một trong những vị tướng tiêu biểu trưởng thành từ thực tiễn chiến đấu, gắn bó gần nửa thế kỷ với sự nghiệp cách mạng, quân đội và công cuộc bảo vệ Tổ quốc. Cuộc đời hoạt động của đồng chí gắn liền với những chiến trường ác liệt từ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ đến nhiệm vụ bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế.
Đồng chí Nguyễn Minh Châu sinh ngày 20 tháng 8 năm 1921 trong một gia đình nông dân nghèo giàu truyền thống yêu nước tại xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Đầu năm 1945, đồng chí tham gia hoạt động cách mạng, rải truyền đơn tuyên truyền chống thực dân Pháp và phát xít Nhật, đồng thời thực hiện nhiệm vụ trinh sát, thu vũ khí của địch để chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa. Ngày 1 tháng 8 năm 1945, đồng chí nhập ngũ và tham gia cuộc biểu tình giành chính quyền tại Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định trong Cách mạng Tháng Tám.
Khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta sau ngày độc lập, đồng chí trực tiếp tham gia chiến đấu và đảm nhiệm nhiều cương vị từ trinh sát viên, tiểu đội trưởng đến trung đội trưởng. Trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp, đồng chí chỉ huy đơn vị chiến đấu tại nhiều địa bàn như Sài Gòn, Hàm Thuận, Phan Thiết, Xuyên Mộc và Bà Rịa, lập nhiều chiến công quan trọng. Tháng 8 năm 1949, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ năm 1948 đến năm 1953, đồng chí lần lượt giữ các chức vụ Trung đoàn phó Trung đoàn 812, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Bình Thuận và Tỉnh ủy viên dự khuyết Tỉnh ủy Bình Thuận.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng chí đã có nhiều đóng góp nổi bật, trong đó có trận tiêu diệt Binh đoàn 100, góp phần vào thắng lợi chung của quân và dân cả nước trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Sau Hiệp định Giơnevơ, đồng chí tập kết ra miền Bắc, tiếp tục đảm nhiệm các chức vụ chỉ huy quan trọng tại Liên khu 5. Những năm tiếp theo, đồng chí giữ các cương vị Tham mưu trưởng, Tư lệnh phó Sư đoàn 305, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 305 và được cử đi học tại Trường Quân sự Trung Quốc. Sau khi hoàn thành khóa học, đồng chí được bổ nhiệm làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 325, Quân khu 4.
Năm 1963, trước tình hình chiến tranh ngày càng ác liệt ở miền Nam, đồng chí tình nguyện trở lại chiến trường. Trên cương vị Tư lệnh Quân khu 6 và Ủy viên Thường vụ Khu ủy Khu 6, đồng chí cùng tập thể lãnh đạo, chỉ huy lực lượng vượt qua nhiều khó khăn, giành nhiều thắng lợi quan trọng. Năm 1969, đồng chí được điều động giữ chức Tham mưu phó Bộ Chỉ huy Miền, sau đó là Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Miền vào năm 1972. Với cương vị này, đồng chí đã tham mưu hiệu quả cho Quân ủy Miền và Trung ương Cục trong lãnh đạo cuộc kháng chiến.
Tháng 4 năm 1974, đồng chí được phong quân hàm Thiếu tướng. Đầu năm 1975, đồng chí được giao làm Tư lệnh Đoàn 232 tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh. Dưới sự chỉ huy của đồng chí, các lực lượng của Đoàn 232 đã đánh chiếm nhiều mục tiêu quan trọng của chính quyền Sài Gòn, góp phần vào thắng lợi lịch sử giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Sau ngày đất nước thống nhất, tháng 5 năm 1976, đồng chí được bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh Quân khu 7. Trước những diễn biến phức tạp tại khu vực biên giới Tây Nam, đồng chí đã sớm nhận định nguy cơ chiến tranh và đề xuất nhiều biện pháp chuẩn bị lực lượng, bảo vệ nhân dân. Những dự báo của đồng chí về các cuộc tiến công của quân Khơme Đỏ sau đó đã trở thành hiện thực. Khi chiến sự bùng nổ, đồng chí được giao làm Tư lệnh Sở Chỉ huy tiền phương Quân khu 7, trực tiếp chỉ huy lực lượng vũ trang chiến đấu, giải phóng thị trấn Snuôn và tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia.
Đầu năm 1979, trong đội hình Quân tình nguyện Việt Nam, đồng chí tiếp tục chỉ huy lực lượng Quân khu 7 phối hợp với lực lượng cách mạng Campuchia tiến hành tổng tiến công, giải phóng hoàn toàn Campuchia khỏi họa diệt chủng. Năm 1981, đồng chí được thăng quân hàm Trung tướng. Từ năm 1982 đến năm 1988, đồng chí giữ chức Tư lệnh Quân khu 7. Dù ở cương vị chỉ huy cao nhất của Quân khu, đồng chí vẫn giữ lối sống giản dị, chân thành và luôn quan tâm giúp đỡ cán bộ, chiến sĩ còn khó khăn.
Năm 1986, đồng chí được thăng quân hàm Thượng tướng. Sau đó, đồng chí đảm nhiệm chức vụ Phó Tổng Thanh tra Quân đội và Trưởng đại diện Bộ Quốc phòng Việt Nam giúp Campuchia. Đến tháng 11 năm 1992, đồng chí nghỉ hưu theo chế độ.
Ngày 23 tháng 10 năm 1999, Thượng tướng Nguyễn Minh Châu từ trần sau một thời gian lâm bệnh nặng. Gần 50 năm hoạt động cách mạng, chiến đấu và công tác, đồng chí luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân; là người chỉ huy dũng cảm, mưu trí, tận tụy trong công việc và giàu tình nghĩa với đồng chí, đồng đội. Với những cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng, đồng chí được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý. Năm 2010, đồng chí được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.


