Khác

Vị tướng gắn trọn cuộc đời với tình nghĩa Việt – Lào

Lào Cai14/08/2026Huỳnh Phương Uyên (Bắc Ruộng)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Từ một người con dân tộc Tày ở Cao Bằng, Nông Văn Phách đã trưởng thành qua những năm tháng chiến đấu và trở thành Thượng tướng Vũ Lập – một vị tướng tài năng, giàu bản lĩnh của Quân đội nhân dân Việt Nam. Gần hai thập niên gắn bó với Tây Bắc và chiến trường Lào, ông để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong tình đoàn kết đặc biệt Việt Nam – Lào.

Từ người thanh niên Cao Bằng đến vị chỉ huy trẻ

Thượng tướng Vũ Lập tên thật là Nông Văn Phách, sinh năm 1924 tại xã Vĩnh Quang, huyện Hòa An, nay thuộc thành phố Cao Bằng. Sinh ra trong một gia đình nông dân, ông sớm chứng kiến cảnh người dân bị áp bức và từ đó tham gia hoạt động cách mạng khi còn trẻ.

Năm 17 tuổi, Nông Văn Phách được cử sang Quảng Tây, Trung Quốc học quân sự. Tại đây, ông được học tập cùng những cán bộ quân sự sau này trở thành các tướng lĩnh nổi tiếng của cách mạng Việt Nam.

Đầu năm 1945, ông cùng đơn vị tham gia Nam tiến, sau đó chiến đấu giải phóng Thái Nguyên và tiến về Hà Nội. Ngày 2/9/1945, ông cùng đồng đội tham gia bảo vệ ngày lễ Độc lập tại Quảng trường Ba Đình.

Chỉ một năm sau, khi mới 22 tuổi, ông đã được giao làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 140, đảm nhiệm nhiệm vụ bảo vệ các cơ quan Trung ương Đảng và Chính phủ trong quá trình di chuyển từ Hà Nội lên căn cứ Việt Bắc.

Từ đây, con đường binh nghiệp của Nông Văn Phách ngày càng rộng mở. Ông lần lượt giữ các chức vụ chỉ huy tại những đơn vị chủ lực hoạt động trên các chiến trường Việt Bắc, Đông Bắc và Tây Bắc.

Dấu ấn tại Điện Biên Phủ

Sau Chiến thắng Biên giới năm 1950, quân đội ta chuyển sang thế tiến công. Các đơn vị dưới sự chỉ huy của Vũ Lập liên tục hoạt động tại vùng trung du, góp phần mở rộng vùng giải phóng và tạo thế tiến công lên Tây Bắc.

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, ông giữ cương vị Tham mưu trưởng Đại đoàn 316. Đây là một trong những đơn vị chủ lực đảm nhiệm những trận đánh quan trọng tại các cứ điểm kiên cố của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Trên cương vị tham mưu, Vũ Lập tham gia xây dựng phương án tác chiến, đề xuất những cách đánh phù hợp với tình hình thực tế và trực tiếp đôn đốc các đơn vị thực hiện nhiệm vụ.

Những trận đánh tại các cứ điểm quan trọng, trong đó có Đồi A1, góp phần làm suy yếu hệ thống phòng thủ của quân Pháp. Ngày 7/5/1954, chiến dịch kết thúc thắng lợi, tạo nên bước ngoặt lớn trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Gần 20 năm gắn bó với Tây Bắc

Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, Vũ Lập được cử đi học tại một trường quân sự cao cấp ở nước ngoài. Trở về nước, ông tiếp tục đảm nhiệm nhiều trọng trách, trong đó có cương vị Tư lệnh Quân khu Tây Bắc.

Đây là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng, đồng thời đặt ra nhiều yêu cầu về phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng và bảo đảm an ninh.

Trong gần 20 năm gắn bó với Tây Bắc, Vũ Lập vừa tổ chức xây dựng lực lượng, ổn định địa bàn, vừa thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và nhiệm vụ quốc tế. Đặc biệt, ông nhiều lần được giao chỉ huy các chiến dịch phối hợp giữa lực lượng Việt Nam và lực lượng cách mạng Lào.

Chính từ những năm tháng ấy, mối quan hệ giữa vị tướng Vũ Lập với đất nước Lào ngày càng trở nên sâu sắc.

Vị tướng của những chiến dịch trên đất Lào

Trong những năm chiến tranh, chiến trường Lào có vị trí quan trọng đối với cuộc đấu tranh của nhân dân ba nước Đông Dương. Vũ Lập nhiều lần được giao nhiệm vụ làm Tư lệnh các chiến dịch phối hợp Việt – Lào.

Cuối năm 1967, ông là Tư lệnh Chiến dịch Nặm Bạc. Chiến dịch giành thắng lợi vào tháng 1/1968, đánh dấu sự trưởng thành về quy mô tổ chức và khả năng phối hợp chiến đấu giữa lực lượng Việt Nam và Pa-thét Lào.

Năm 1969, ông tiếp tục chỉ huy chiến dịch Mường Sủi. Sự phối hợp giữa lực lượng Việt Nam và lực lượng cách mạng Lào góp phần mở rộng và kết nối các vùng giải phóng tại Bắc Lào.

Cuối năm 1969, Vũ Lập được giao làm Tư lệnh Chiến dịch 139 tại Cánh đồng Chum. Trong thời gian dài chiến đấu, lực lượng liên quân Việt – Lào giữ vững vùng giải phóng và tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào cách mạng tại Lào.

Năm 1970, ông tiếp tục đảm nhiệm cương vị Tư lệnh Đoàn 959 Quân tình nguyện Việt Nam và Tư lệnh Mặt trận 316. Trong chiến dịch mang mật danh Z, lực lượng Việt Nam phối hợp với lực lượng cách mạng Lào giành lại khu vực Cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng sau 115 ngày đêm chiến đấu.

Đến năm 1972, Vũ Lập một lần nữa được giao làm Tư lệnh Chiến dịch 31, chỉ huy các lực lượng phối hợp bảo vệ Cánh đồng Chum. Những chiến dịch liên tiếp trên đất Lào đã trở thành một phần quan trọng trong cuộc đời binh nghiệp của ông.

Người đặt tình nghĩa lên trên hết

Điểm đặc biệt trong hình ảnh Vũ Lập không chỉ nằm ở tài năng quân sự. Những người từng làm việc cùng ông còn nhớ đến một vị tướng gần gũi, nhân hậu, luôn quan tâm đến cán bộ, chiến sĩ và nhân dân.

Từ một người con dân tộc Tày ở Cao Bằng, ông trưởng thành trong môi trường cách mạng, trải qua nhiều chiến trường và đảm nhiệm nhiều trọng trách. Nhưng dù ở cương vị nào, ông vẫn được đồng đội nhớ đến bởi sự tận tụy và trách nhiệm.

Đặc biệt, những năm tháng làm nhiệm vụ tại Lào đã giúp ông xây dựng mối quan hệ sâu sắc với các cán bộ, chiến sĩ và nhân dân nước bạn. Tình cảm ấy không chỉ là tình đồng chí trong chiến đấu mà còn là biểu tượng của mối quan hệ đoàn kết, gắn bó giữa hai dân tộc Việt Nam và Lào.

Từ vị tướng trận mạc đến nhà hoạt động chính trị

Sau năm 1975, Vũ Lập tiếp tục đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng. Năm 1976, ông được bầu làm Ủy viên Trung ương Đảng, đồng thời giữ cương vị Trưởng Ban Dân tộc Trung ương và Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc của Chính phủ.

Năm 1978, ông được giao làm Tư lệnh Quân khu 2. Đến năm 1984, ông được phong quân hàm Thượng tướng.

Ông cũng là Ủy viên Trung ương Đảng trong nhiều khóa và đại biểu Quốc hội qua ba nhiệm kỳ. Những trọng trách ấy cho thấy sự trưởng thành của một người cán bộ quân sự từ chiến trường bước sang lĩnh vực lãnh đạo, quản lý và xây dựng đất nước.

Một cuộc đời còn mãi với núi rừng và tình hữu nghị

Thượng tướng Vũ Lập qua đời năm 1987, khi mới 63 tuổi. Trong cuộc đời hơn sáu thập niên, ông đã trải qua những giai đoạn quan trọng nhất của lịch sử cách mạng Việt Nam: từ những ngày giành chính quyền, kháng chiến chống Pháp, Chiến thắng Điện Biên Phủ đến những năm tháng chiến đấu và thực hiện nhiệm vụ quốc tế tại Lào.

Ông được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Giải phóng và Huân chương Chiến thắng.

Tên tuổi Vũ Lập ngày nay vẫn được nhắc nhớ qua những con đường mang tên ông tại Đà Nẵng và Nha Trang. Nhưng có lẽ dấu ấn sâu đậm nhất mà vị tướng người Tày để lại chính là hình ảnh một người chỉ huy giàu bản lĩnh, một cán bộ tận tụy với nhân dân và đặc biệt là một người đã dành nhiều năm tháng của cuộc đời vun đắp cho tình đoàn kết, hữu nghị và thủy chung giữa Việt Nam và Lào.

Từ núi Kỳ Sầm của quê hương Cao Bằng đến những chiến trường Tây Bắc và Cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng, hành trình của Thượng tướng Vũ Lập là hành trình của một người lính gắn số phận mình với đất nước, với đồng đội và với tình nghĩa Việt – Lào.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn