Vị tướng “Hùm xám Bắc Sơn”
Thượng tướng Chu Văn Tấn - Vị tướng “Hùm xám Bắc Sơn”, người dân tộc Nùng, Bộ trưởng Quốc phòng đầu tiên của Việt Nam

Từ thầy giáo người Nùng đến người chỉ huy Đội du kích Bắc Sơn
Chu Văn Tấn sinh tháng 5/1909, quê ở xã Phú Thượng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, là người dân tộc Nùng. Ông sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống yêu nước. Cha ông là cụ Chu Văn Hòa, từng tham gia nghĩa quân Hoàng Hoa Thám chống thực dân Pháp.
Gia đình có điều kiện để ông Chu Văn Tấn được học hành từ nhỏ. Năm 1927, sau khi tốt nghiệp tiểu học ở Thái Nguyên, ông có thời gian tới Bắc Hà dạy học. Khoảng năm 1931-1932, Chu Văn Tấn trở về quê, làm nhân viên địa chính và cai quản lính dõng, còn gọi là châu đoàn, trong bộ máy chính quyền thực dân.
Đây cũng là thời gian những cán bộ cộng sản tìm cách tiếp xúc, vận động ông Chu Văn Tấn tham gia phong trào cách mạng. Từ năm 1934-1935, ông tham gia xây dựng phong trào, bí mật tổ chức các đội tự vệ bán vũ trang tại Tràng Xá, Võ Nhai và Bắc Sơn. Những đội tự vệ nhỏ bé ban đầu về sau trở thành một trong những cơ sở quan trọng cho quá trình hình thành lực lượng vũ trang cách mạng ở vùng Việt Bắc.
Năm 1935, dù chưa phải đảng viên, đồng chí Chu Văn Tấn đã được tham dự sinh hoạt tại chi bộ cộng sản do Hoàng Văn Thụ gây dựng ở Võ Nhai và Bắc Sơn. Năm 1936, ông chính thức gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương, lấy bí danh Tân Hồng.
Bước ngoặt lớn trong cuộc đời hoạt động của Chu Văn Tấn diễn ra vào tháng 9/1940. Ngày 22/9/1940, quân Nhật tiến công Lạng Sơn. Quân Pháp tại đây tháo chạy qua Bắc Sơn. Nhận thấy cơ hội có thể thu vũ khí để trang bị cho lực lượng cách mạng, Chu Văn Tấn lãnh đạo các đội tự vệ đón đánh, tước súng của quân Pháp tại khu vực đèo Tam Canh.
Ngày 27/9/1940, lực lượng tự vệ cùng quần chúng cách mạng tiến công đồn Mỏ Nhài, giành chính quyền ở Bắc Sơn. Khởi nghĩa Bắc Sơn trở thành một trong những cuộc đấu tranh vũ trang tiêu biểu trước Cách mạng Tháng Tám. Tuy nhiên, sau khi Nhật và Pháp thỏa hiệp, thực dân Pháp tập trung lực lượng đàn áp cuộc khởi nghĩa. Chu Văn Tấn cùng một bộ phận đội viên tự vệ mang theo vũ khí rút vào vùng rừng núi Bắc Sơn - Võ Nhai, tiếp tục duy trì cơ sở cách mạng.
Tháng 11/1940, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 7 quyết định duy trì và củng cố lực lượng vũ trang hình thành từ Khởi nghĩa Bắc Sơn, coi đây là lực lượng quan trọng để chuẩn bị cho những bước phát triển tiếp theo của cách mạng.
Đầu tháng 2/1941, đồng chí Chu Văn Tấn được bầu làm Xứ ủy viên Bắc Kỳ, trực tiếp phụ trách việc xây dựng Đội du kích Bắc Sơn. Ngày 14/2/1941, tại khu rừng Khuổi Nọi, Đội du kích Bắc Sơn chính thức được thành lập với 32 chiến sĩ. Lương Văn Tri được giao làm Chỉ huy trưởng, Chu Văn Tấn giữ cương vị Chỉ huy phó.
Tháng 5/1941, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì tại Pác Bó quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh và xác định nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang làm nòng cốt cho cách mạng. Đội du kích Bắc Sơn sau đó được đổi tên thành Trung đội Cứu quốc quân thứ nhất.
Trong thời gian này, đồng chí Chu Văn Tấn còn được giao chỉ huy lực lượng bảo vệ, đưa các cán bộ lãnh đạo như Hoàng Văn Thụ, Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh đi qua Long Châu, Trung Quốc rồi trở về Cao Bằng dự Hội nghị Trung ương lần thứ 8.
Cuối tháng 6/1941, thực dân Pháp huy động lực lượng lớn mở cuộc càn quét vào căn cứ Bắc Sơn. Trước tương quan lực lượng chênh lệch, Cứu quốc quân phải tổ chức phá vòng vây, bảo toàn lực lượng.
Sau đó, Chu Văn Tấn được giao trở lại Võ Nhai tiếp tục gây dựng lực lượng. Ngày 16/9/1941, Trung đội Cứu quốc quân thứ hai được thành lập tại Khuôn Mánh, nay thuộc địa bàn Võ Nhai, Thái Nguyên. Đơn vị có 47 chiến sĩ, trong đó có 3 nữ, do Chu Văn Tấn làm Chỉ huy trưởng.
Từ đây, tên tuổi ông gắn chặt với hoạt động vũ trang ở Bắc Sơn - Võ Nhai. Lực lượng Cứu quốc quân vừa chiến đấu, vừa xây dựng cơ sở, mở rộng địa bàn từ Tràng Xá về phía Đại Từ và nhiều vùng lân cận. Vũ khí còn thiếu thốn nên một trong những phương thức quan trọng là tổ chức phục kích, đánh các toán quân Pháp để thu súng bổ sung cho lực lượng.
Chính trong giai đoạn này, Chu Văn Tấn được biết tới với biệt danh “Hùm xám Bắc Sơn”. Biệt danh phản ánh sự kiêng dè của quân Pháp đối với người chỉ huy lực lượng du kích hoạt động liên tục trên vùng rừng núi hiểm trở Bắc Sơn - Võ Nhai.
Từ Cứu quốc quân đến Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đầu tiên
Cuối năm 1944, ông Chu Văn Tấn chỉ huy Cứu quốc quân 2 xây dựng Chiến khu Nguyễn Huệ trên địa bàn Đại Từ, Thái Nguyên.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Từ ngày 15 đến 20/4/1945, Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ họp tại Hiệp Hòa. Sau hội nghị, Chiến khu Nguyễn Huệ được mở rộng và phát triển thành Chiến khu Hoàng Hoa Thám, trở thành một trong những căn cứ quan trọng của phong trào cách mạng trước Tổng khởi nghĩa. Cũng trong quá trình chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và Cứu quốc quân được thống nhất thành Việt Nam Giải phóng quân.
Tháng 8/1945, tình hình trong nước và quốc tế thay đổi rất nhanh sau khi Nhật Bản đầu hàng Đồng minh. Ngày 13/8, Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc được thành lập. Những ngày tiếp theo, Hội nghị toàn quốc của Đảng tại Tân Trào quyết định phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước. Đồng chí Chu Văn Tấn tham gia Ban lãnh đạo Tổng khởi nghĩa và được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Ngày 16/8/1945, Quốc dân Đại hội họp tại Tân Trào, thông qua chủ trương Tổng khởi nghĩa và thành lập Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ông Chu Văn Tấn là một trong những thành viên của cơ quan này.
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập. Trong Chính phủ lâm thời, ông Chu Văn Tấn được giao trọng trách Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Theo tư liệu của Bộ Quốc phòng, ông Chu Văn Tấn đảm nhiệm cương vị này từ tháng 9/1945 đến tháng 2/1946, trở thành người đầu tiên giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ngày 2/3/1946, Quốc hội khóa I họp kỳ đầu tiên, thành lập Chính phủ Liên hiệp kháng chiến. Ông Chu Văn Tấn rời cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và tiếp tục được giao nhiều nhiệm vụ quân sự, chính trị khác. Sau đó, ông được cử làm Phái viên Chính phủ đi kiểm tra Khu 4. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt, Chu Văn Tấn tiếp tục hoạt động trên những địa bàn quan trọng.
Năm 1948, ông giữ chức Khu trưởng Khu 4 rồi đảm nhiệm các nhiệm vụ tại Chiến khu 1, đồng thời giữ cương vị Bí thư Khu ủy. Ngày 20/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 111 phong quân hàm Thiếu tướng cho Chu Văn Tấn. Đây là đợt phong quân hàm cấp tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Từ năm 1949 đến 1954, ông lần lượt đảm nhiệm các chức vụ Khu trưởng, Bí thư Khu ủy Liên khu Việt Bắc, Chánh án Tòa án Quân sự và Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính Liên khu Việt Bắc.
“Người anh cả của lực lượng du kích quân Việt Nam”
Sau Hiệp định Geneva năm 1954, Chu Văn Tấn tiếp tục gắn bó với Việt Bắc. Từ năm 1954 đến 1956, ông giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy, Bí thư Quân khu ủy Liên khu Việt Bắc. Từ năm 1957 đến năm 1975, ông đảm nhiệm các chức vụ Chính ủy, Bí thư Khu ủy Quân khu Việt Bắc và Chủ tịch Ủy ban hành chính Khu tự trị Việt Bắc.
Ngày 31/8/1959, Chu Văn Tấn được thăng quân hàm vượt cấp từ Thiếu tướng lên Thượng tướng. Khi đó, ông là một trong hai Thượng tướng của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Trong thời gian công tác tại Việt Bắc, Chu Văn Tấn tham gia chỉ đạo nhiều lĩnh vực phát triển kinh tế, giao thông, văn hóa và giáo dục ở miền núi. Một trong những công trình nổi bật gắn với giai đoạn này là tuyến đường Hà Giang - Đồng Văn - Mèo Vạc, về sau được biết đến với tên gọi Đường Hạnh Phúc. Phong trào thanh niên tình nguyện của 6 tỉnh Việt Bắc được phát động để tham gia mở tuyến đường xuyên qua vùng núi đá hiểm trở ở cực Bắc.
Ông cũng tham gia chỉ đạo xây dựng Đài Phát thanh Việt Bắc, tổ chức phát sóng bằng nhiều ngôn ngữ như tiếng Kinh, Tày, Nùng, Dao, Mông; phát triển hệ thống trường học, trường dân tộc nội trú và tham gia quá trình xây dựng chữ viết Tày - Nùng.
Uy tín của ông Chu Văn Tấn trong đồng bào các dân tộc Việt Bắc cũng được sử dụng trong công tác vận động, đoàn kết các lực lượng ở miền núi. Một trong những nhiệm vụ đáng chú ý là vận động Vương Chí Sình, con trai Vương Chính Đức - người thường được gọi là “Vua Mèo” ở Hà Giang - tham gia chính quyền cách mạng. Vương Chí Sình sau đó trở thành đại biểu Quốc hội.
Ngày 1/1/1967, tại Phủ Chủ tịch, trong buổi tiếp các anh hùng, chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước và đại biểu các đơn vị Anh hùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giới thiệu Chu Văn Tấn là “người anh cả của lực lượng du kích quân Việt Nam”.
Bên cạnh quân đội và công tác ở Việt Bắc, Chu Văn Tấn còn có nhiều năm hoạt động tại Quốc hội. Ông là đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VI, giữ chức Phó Chủ tịch Quốc hội trong nhiều nhiệm kỳ, đồng thời từng đảm nhiệm chức Tổng Thư ký Ủy ban Thường vụ Quốc hội và tham gia Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Trong Đảng, Chu Văn Tấn là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương các khóa I, II và III.
Ngày 22/5/1984, Thượng tướng Chu Văn Tấn qua đời tại Hà Nội, hưởng thọ 75 tuổi.



