Vị tướng huyền thoại của dân tộc Việt Nam
Đại tướng Võ Nguyên Giáp (1911–2013), tên khai sinh là Võ Giáp, sinh tại làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình nhà nho yêu nước. Từ khi còn học tại Trường Quốc học Huế, ông đã tham gia phong trào yêu nước, sớm tiếp thu tư tưởng cách mạng của Nguyễn Ái Quốc và lần lượt tham gia Tân Việt Cách mạng Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, góp phần vào sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong giai đoạn 1934–1940, ông vừa giảng dạy lịch sử tại Trường Thăng Long, vừa học Luật và Kinh tế, đồng thời viết báo, tuyên truyền cách mạng và tham gia các hoạt động của Đảng. Năm 1940, ông sang Trung Quốc gặp Nguyễn Ái Quốc. Trở về nước năm 1941, ông tích cực xây dựng lực lượng cách mạng. Tháng 12 năm 1944, theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân – tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam, góp phần quan trọng vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Năm 1948, Võ Nguyên Giáp được phong quân hàm Đại tướng, trở thành vị Đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ông trực tiếp chỉ huy nhiều chiến dịch lớn, đặc biệt là Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Quyết định chuyển phương châm tác chiến từ "đánh nhanh, giải quyết nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc" đã góp phần làm nên chiến thắng lịch sử, buộc Pháp ký Hiệp định Genève. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Đại tướng tiếp tục giữ vai trò chỉ huy chiến lược quan trọng. Mệnh lệnh nổi tiếng "Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa" trước Chiến dịch Hồ Chí Minh đã góp phần vào thắng lợi của cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước. Sau năm 1975, Đại tướng tiếp tục đảm nhiệm nhiều cương vị lãnh đạo quan trọng, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Dù nghỉ công tác, ông vẫn luôn quan tâm, đóng góp ý kiến đối với những vấn đề lớn của đất nước. Suốt hơn 80 năm hoạt động cách mạng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được biết đến là vị tư

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tên khai sinh là Võ Giáp, bí danh Văn, sinh ngày 25/8/1911 tại làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình nhà nho nghèo nhưng giàu truyền thống yêu nước. Chính mảnh đất Quảng Bình kiên cường cùng những năm tháng chứng kiến quê hương chìm trong ách thống trị của thực dân đã sớm hun đúc trong ông lòng yêu nước và khát vọng giành lại độc lập, tự do cho dân tộc.
Ngay từ khi còn là học sinh Trường Quốc học Huế, những năm 1925–1926, Võ Nguyên Giáp đã tham gia các phong trào yêu nước của học sinh và sớm tiếp cận tư tưởng cách mạng của Nguyễn Ái Quốc. Năm 1927, ông gia nhập Tân Việt Cách mạng Đảng. Đến năm 1929, ông cùng nhiều đồng chí cải tổ tổ chức này thành Đông Dương Cộng sản Liên đoàn – một trong ba tổ chức hợp nhất để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong thời gian hoạt động, ông được nghiên cứu các tài liệu về Chủ nghĩa Mác và những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc, tạo nền tảng tư tưởng vững chắc cho con đường cách mạng sau này.
Từ năm 1934 đến năm 1940, Võ Nguyên Giáp giảng dạy môn Lịch sử tại Trường Trung học tư thục Thăng Long. Bên cạnh công việc của một nhà giáo, ông tích cực viết báo, tuyên truyền cách mạng trong thanh niên, học sinh và tiếp tục theo học ngành Luật và Kinh tế. Năm 1936, ông tham gia sáng lập, viết bài cho nhiều tờ báo của Đảng như Lao động, Tiếng nói chúng ta, Tiến lên, Thời báo, Cờ Giải phóng bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp. Đồng thời, ông tham gia phong trào Đông Dương Đại hội và được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Báo chí Bắc Kỳ.
Năm 1940, với bí danh Dương Hoài Nam, Võ Nguyên Giáp cùng đồng chí Phạm Văn Đồng sang Trung Quốc gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Tháng 11 năm 1941, sau khi trở về Cao Bằng, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Nguyễn Ái Quốc, ông cùng các đồng chí xây dựng cơ sở cách mạng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, vận động đồng bào các dân tộc tham gia phong trào cách mạng và phụ trách Ban xung phong Nam tiến nhằm mở đường liên lạc giữa căn cứ Cao Bằng với các tỉnh miền xuôi.
Tháng 12 năm 1944, theo sự giao phó của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân – tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Với cương vị là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, thành viên Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc, thành viên Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam và Tư lệnh Việt Nam Giải phóng quân, ông đã có nhiều đóng góp quan trọng vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1947, Võ Nguyên Giáp đảm nhiệm nhiều trọng trách trong Chính phủ lâm thời và Chính phủ Liên hiệp quốc dân. Đặc biệt, ngày 30/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh giao ông giữ chức Tổng Chỉ huy Quân đội quốc gia và Dân quân tự vệ Việt Nam, sau đó là Tổng Tư lệnh kiêm Tổng Chính ủy và Bí thư Tổng Quân ủy.
Ngày 20/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh phong quân hàm cấp tướng cho 11 cán bộ cao cấp của quân đội, trong đó Võ Nguyên Giáp được phong quân hàm Đại tướng. Tháng 7 cùng năm, ông được bổ nhiệm lại làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và đến tháng 2 năm 1951 được bầu vào Bộ Chính trị.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kéo dài chín năm (1945–1954), Đại tướng Võ Nguyên Giáp giữ vai trò Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy của nhiều chiến dịch lớn như Việt Bắc (1947), Biên Giới (1950), Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung (1951), Hòa Bình (1951–1952), Tây Bắc (1952), Thượng Lào (1953) và đặc biệt là Chiến dịch Điện Biên Phủ (13/3–7/5/1954).
Trong quá trình chỉ huy, ông đã đề xuất nhiều quyết sách mang tính chiến lược như tổ chức lực lượng theo mô hình đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung; xây dựng đại đoàn chủ lực đầu tiên; lựa chọn Đông Khê thay vì Cao Bằng trong Chiến dịch Biên Giới; kết hợp tác chiến chính quy với chiến tranh du kích trong Chiến dịch Hòa Bình; mở Chiến dịch Tây Bắc để tiêu diệt sinh lực địch và mở rộng vùng giải phóng. Đặc biệt, quyết định thay đổi phương châm tác chiến từ "đánh nhanh, giải quyết nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc" trong Chiến dịch Điện Biên Phủ đã trở thành một quyết định lịch sử, góp phần làm nên chiến thắng "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", buộc Pháp phải ký Hiệp định Genève năm 1954, chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954–1975), Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc hoạch định chiến lược quân sự. Trước những ý kiến cho rằng Việt Nam không nên đối đầu trực tiếp với Mỹ, ông khẳng định rằng Việt Nam sẽ không thể chiến thắng nếu đánh theo cách của các cường quốc, mà phải chiến đấu theo nghệ thuật quân sự phù hợp với điều kiện và con người Việt Nam. Những chiến lược và phương án tác chiến do ông xây dựng đã góp phần đánh bại nhiều chiến lược quân sự của Mỹ ở cả miền Nam và miền Bắc.
Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ngày 7/4/1975, Đại tướng ra mệnh lệnh nổi tiếng: "Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa". Mệnh lệnh ấy đã cổ vũ toàn quân tiến công mạnh mẽ, góp phần làm nên thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam và thống nhất đất nước.
Sau khi đất nước thống nhất, Đại tướng tiếp tục đảm nhiệm nhiều trọng trách như Bí thư Quân ủy Trung ương (đến năm 1978), Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Ông cùng tập thể lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội chỉ đạo sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và tham gia công cuộc đổi mới đất nước. Ngay cả khi không còn giữ cương vị lãnh đạo, ông vẫn luôn theo dõi sát tình hình trong nước và quốc tế, thường xuyên đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết đối với những vấn đề quan trọng của quốc gia.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp không chỉ được biết đến là người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Tổng Tư lệnh đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam hay người Anh Cả của quân đội, mà còn là vị tướng đã chỉ huy quân đội Việt Nam giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, góp phần giành lại độc lập và thống nhất đất nước.
Hơn 80 năm hoạt động cách mạng, Đại tướng để lại dấu ấn không chỉ bằng tài năng quân sự kiệt xuất mà còn bằng lối sống giản dị, gần gũi và đức độ. Ông luôn là biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần cống hiến và ý chí kiên cường. Không chỉ được nhân dân Việt Nam kính trọng, Đại tướng còn được nhiều nguyên thủ quốc gia, học giả và bạn bè quốc tế đánh giá cao, xem là một trong những danh tướng tiêu biểu của lịch sử quân sự thế giới.
Ngày nay, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã yên nghỉ trên quê hương Quảng Bình, nhưng tên tuổi và sự nghiệp của ông vẫn sống mãi trong lòng dân tộc. Mỗi dịp kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ hay Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, hàng triệu người Việt Nam lại thành kính tưởng nhớ vị Đại tướng huyền thoại – người đã cống hiến trọn đời mình cho độc lập, tự do và hạnh phúc của Tổ quốc. Hình ảnh của ông sẽ mãi là niềm tự hào của các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau.



