Bài viết

Vị tướng huyền thoại-Võ Nguyên Giáp

Hưng Yên07/01/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Năm 1923-1924, ông thi trượt trường Quốc học Huế. Năm 1925, ông đỗ thứ hai vào trường Quốc học Huế sau Nguyễn Thúc Hào. Trong thời gian học ở Huế, ông có vài lần đến thăm nhà yêu nước Phan Bội Châu và bắt đầu say mê lý tưởng cách mạng. Từ năm 1925, ông tham gia phong trào học sinh ở Huế. Ông hăng say hoạt động cách mạng, vừa viết báo, vừa tích cực vận động thanh niên, học sinh, phụ nữ, nông dân giác ngộ cách mạng và tham gia vào cuộc vận động thống nhất các tổ chức yêu nước như Tân Việt.

📖 Nội dung tác phẩm/bài viết

Võ Nguyên Giáp (tên khai sinh: Võ Giáp, bí danh: Văn) sinh ngày 25-8-1911 tại làng An Xá, nay là xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, trong một gia đình nhà nho giàu truyền thống yêu nước. Ông học giỏi, sớm được cha mẹ giáo dục về lòng yêu nước, căm thù quân xâm lược.

· Hoạt động cách mạng ban đầu:

o Năm 1925-1926, ông tham gia phong trào học sinh yêu nước ở Trường Quốc học Huế và tiếp thu tư tưởng cách mạng của Nguyễn Ái Quốc.

o Năm 1927, Võ Nguyên Giáp gia nhập Tân Việt Cách mạng Đảng.

o Năm 1929, ông cùng một số đồng chí cải tiến Tân Việt thành Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, một trong 3 tổ chức đảng hợp nhất thành Cộng sản Việt Nam.

o Thời gian này, ông được tiếp xúc với các tài liệu tuyên truyền cách mạng và Chủ nghĩa Mác, trong đó có các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc, Bản án chế độ thực dân Pháp.

· Hoạt động 1934-1940: Ông dạy môn lịch sử ở Trường Trung học tư thục Thăng Long, viết báo tuyên truyền xây dựng cơ sở cách mạng trong thanh niên học sinh, đồng thời tiếp tục học Đại học luật và kinh tế.

· Hoạt động năm 1936: Ông tham gia sáng lập và viết bài bằng tiếng Việt và tiếng Pháp cho các tờ báo của Đảng: Lao động, Tiếng nói chúng ta, Tiến lên, Thời báo Cờ Giải phóng ; tham gia phong trào Đông Dương Đại hội và được bầu làm chủ tịch Ủy ban báo chí Bắc Kỳ.

· Thành lập Quân đội:

o Năm 1941, Võ Nguyên Giáp được giao phụ trách Ủy ban Quân sự của Tổng bộ Việt Minh, tham gia chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa, xây dựng căn cứ địa Cao - Bắc - Lạng.

o Tháng 12-1944, ông được Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, đội quân chủ lực đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam.

o Ngày 22-12-1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo (Cao Bằng), Võ Nguyên Giáp đọc Chỉ thị thành lập Đội với 34 cán bộ, chiến sĩ, và được ủy nhiệm lãnh đạo chung.

o Ngay sau thành lập, ông trực tiếp chỉ huy trận Phai Khắt - Nà Ngần (25 và 26-12-1944), mở đầu truyền thống “đánh thắng trận đầu”, “đánh tiêu diệt gọn” của QĐND Việt Nam.

· Trong Kháng chiến chống Pháp (1945-1954):

o Ông có đóng góp quan trọng vào thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945.

o Từ 1945-1947, ông đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng trong Chính phủ.

o Ngày 30-11-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh uỷ quyền cho Võ Nguyên Giáp làm Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và Dân quân tự vệ Việt Nam, sau là Tổng tư lệnh kiêm Tổng Chính ủy, Bí thư Tổng Quân ủy.

o Ngày 20-1-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh phong quân hàm cấp tướng cho 11 cán bộ, Võ Nguyên Giáp được phong quân hàm Đại tướng. Ngày 28-5-1948, ông được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trao quân hàm Đại tướng.

o Từ tháng 7-1948, ông được tái bổ nhiệm là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

o Ông là Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy các chiến dịch lớn, đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ (13-3 đến 7-5-1954).

o Ông đã kiến nghị những quyết sách đúng đắn và sáng tạo, đặc biệt là quyết định thay đổi phương châm tác chiến từ “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc tiến chắc” trong chiến dịch Điện Biên Phủ.

· Trong Kháng chiến chống Mỹ (1954-1975):

o Ông khẳng định Việt Nam sẽ giành chiến thắng bằng cách đánh kiểu Việt Nam, không phải kiểu chính quy của các nước lớn.

o Những kế hoạch chiến lược và phương án tác chiến của ông đã góp phần đánh bại các chiến lược của quân đội Mỹ.

o Ngày 7-4-1975, ông ra mệnh lệnh cho toàn quân “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa”, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975.

· Sau khi rời vị trí lãnh đạo: Ông vẫn theo dõi tình hình thời sự và luôn quan tâm, kịp thời đóng góp ý kiến với Đảng, Nhà nước về những vấn đề quan trọng của quốc gia.

· Đánh giá: Ông là Người Anh cả của QĐND Việt Nam, Tổng Tư lệnh “văn võ song toàn”, “đức tài trọn vẹn”. Với tài thao lược, ông là một trong những danh tướng của thế giới trong 25 thế kỷ, một trong những thiên tài quân sự lớn nhất của thế kỷ 20.

· Qua đời: Ông từ trần hồi 18 giờ 09 phút, ngày 4-10-2013 (tức ngày 30-8 năm Quý Tỵ). Tang lễ tổ chức theo nghi thức Quốc tang và được an táng ngày 13-10 tại Vũng Chùa, đảo Yến, xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

· Các chức vụ và danh hiệu tiêu biểu:

o Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng (8-1945 và khoá II-VI).

o Ủy viên Bộ Chính trị khoá II-IV (1951-1980).

o Phó thủ tướng/Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (9-1955 đến 8-1991).

o Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (1946-1947, 1948-1980).

o Đại biểu Quốc hội khoá I-VII (1946-1991).

o Chủ tịch danh dự Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Hội Khuyến học Việt Nam, Hội Cựu giáo chức Việt Nam (sau khi nghỉ hưu).

· Khen thưởng: Ông được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng (20-8-1992) , hai Huân chương Hồ Chí Minh (là người đầu tiên được tặng 1950; 1979) , Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng (trao ngày 27-10-2010) và nhiều huân, huy chương cao quý khác của Việt Nam và quốc tế

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn