Khác

Vị tướng khiêm nhường, giản dị

Vị tướng khiêm nhường giản dị

Phú Thọ26/03/2026Đoàn xã Yên Phú (Đoàn xã Yên Phú)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

NGƯỜI CON THÔNG MINH, HIẾU HỌC, NẶNG TÌNH VỚI QUÊ HƯƠNG

Phạm Quang Lễ là tên khai sinh mà ông giáo Phạm Quang Mùi và bà Lý Thị Diệu đặt cho Trần Đại Nghĩa. Trong kí ức của người thân về những năm thiếu thời, cho thấy Phạm Quang Lễ là người có tố chất thông minh, ham học hỏi, đặc biệt là sự đam mê với các môn khoa học tự nhiên.Cũng như bao đứa trẻ khác ở các làng quê Việt Nam, cậu bé Phạm Quang Lễ cũng đã trải qua những năm tháng tuổi thơ hồn nhiên, vô tư, tinh nghịch. Trong tác phẩm Người anh hùng thầm lặng(1), bằng những câu chuyện, sự kiện có thật cũng như qua tài nghệ của người viết chuyện về danh nhân, tác giả Vũ Hùng đã tái hiện sinh động về những năm tháng tuổi học trò khi Phạm Quang Lễ theo học ở Trường tiểu học Vĩnh Long. Đó là một cậu bé tinh nghịch, ham chơi, thỉnh thoảng phải chịu những trận đòn roi vì mải nghe theo lời của đám bạn bỏ học để chơi trốn tìm. Tuy nhiên, chính những kí ức hồn nhiên, tinh nghịch tuổi học trò bên dòng sông Măng Thít hiền hòa, thơ mộng đã góp phần hình thành nên tính cách, phẩm chất tốt đẹp ở Phạm Quang Lễ, đó là sự gắn bó, nhớ thương quê hương da diết.Bằng sự chỉ bảo ân cần, nghiêm khắc của ba; từ cuộc đời tần tảo, lam lũ, chịu thương chịu khó của má đã giúp Pham Quang Lễ từng bước trưởng thành, chú tâm vào chuyện học hành, dùi mài kinh sử.Mặc dù ở bên cạnh ba không nhiều, thầy giáo Phạm Quang Mùi mất khi Phạm Quang Lễ mới lên 7 nhưng những lời căn dặn của ba trước lúc lâm chung đã trở thành động lực để Phạm Quang Lễ cố gắng học hành, báo đền công ơn dưỡng dục, sinh thành của ba má.Biết bệnh tình không qua khỏi, trước lúc lâm chung, ông Phạm Quang Mùi dặn vợ con: “Quanh ta bao nhiêu người nghèo khổ, lớn lên các con có thể làm nghề dạy học như ba, cũng có thể làm nghề khác. Nhưng chỉ làm để nuôi bản thân thì chưa đủ, nhất là Lễ phải trở thành trụ cột của gia đình. Có má chăm lo dạy bảo, Lễ phải học hành đến nơi đến chốn và phải biết mang hiểu biết của mình giúp ích cho đời”(2).Sau khi ba qua đời, gia cảnh gặp nhiều khó khăn nhưng với sự động viên của mẹ, sự giúp đỡ từ những đồng nghiệp của ba, trực tiếp là thầy Ba, thầy Năm ở Trường tiểu học Vĩnh Long đã tiếp thêm sức mạnh, niềm tin và là nguồn cổ vũ lớn để Phạm Quang Lễ hiện thực niềm mong ước của cả gia đình.Bằng nỗ lực, quyết tâm lớn và sự thông minh, Phạm Quang Lễ đã đạt được nhiều thành tích vượt bậc trong học tập. Năm 1926, ông thi đỗ hạng ưu vào trường Trung học Mỹ Tho, được nhận học bổng 4 năm học (1926-1930). Năm 1930, ông được tuyển thẳng vào trường Trung học Pêtrus Ký (Sài Gòn) và được học bổng 3 năm liền. Năm 1933 ông đỗ tú tài bàn xứ và tú tài Tây, được cấp học bổng đi học ở Hà Nội. Tuy nhiên Phạm Quang Lễ không ra Hà Nội mà quyết định vừa học vừa làm tại Tòa sữ Mỹ Tho, kiếm tiền giúp mẹ và chị, chờ cơ hội để được đi học ở nước ngoài, thực hiện hoài bão và giấc mộng lớn của đời mình.Năm 1935 khi vừa tròn 22 tuổi, người thành niên yêu nước Phạm Quang Lễ dã rời bến cảng Nhà Rồng sang trời Tây du học. Để được sang Pháp, ngoài tài năng, tố chất thông minh và những thành tích vượt trội trong học tập còn cần đến sự may mắn và sự hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi của nhà báo Vương Quang Ngươu - một Việt kiều yêu nước, từ Pháp trở về nước, làm việc tại Tòa bố chính Mỹ Tho. Khi gặp và trò chuyện với Phạm Quang Lễ, nhận thấy những tố chất và khát vọng lớn của người thanh niên có chí khí, ông đã vận động Hội Ái hữu Trường Chasseloup Laubat cấp cho Phạm Quang Lễ học bổng là một năm sang Pháp học tập.Vì học bổng có thời hạn 1 năm, Phạm Quang Lễ đã phải rút ngắn thời gian học (vì thông thường học sinh phải có 2 năm dự bị để vào học đại học) và thi đỗ vào trường Đại học quốc gia Cầu đường Pa-ri. Nhờ nỗ lực, quyết tâm lớn trong học tập, nhanh nhạy trong việc tiếp thu kiến thức, tinh thần tự học và khát vọng vươn lên, Phạm Quang Lễ đã tham gia nhiều khóa học ở nhiều trường đại học lớn của Pháp; thường xuyên nghiên cứu, tìm kiếm tài liệu trong các thư viện; tự học tiếng Đức để nghiên cứu các tài liệu nguyên bản, nhờ đó mà ông thu lượm được nhiều tri thức quan trọng về ngành chế tạo vũ khí trong điều kiện kiểm soát ngặt nghèo của thực dân đối với học sinh của nước thuộc địa.Trong thời gian ở Pháp, anh Lễ đã thu thập được hơn ba chục ngàn trang tài liệu về vũ khí và thuốc nổ, phần lớn là các tài liệu mật. Các tài liệu này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là hành trang và cơ sở nền tảng để từ những kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn, nhà khoa học tài ba Phạm Quang Lễ sẽ chế tạo ra những loại vũ khí để phục vụ đắc lực vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc của dân tộc.Có thể nói, bằng niềm đam mê nghiên cứu khoa học với nỗ lực, quyết tâm, khát vọng lớn lao, cao cả của một thanh niên yêu nước, Phạm Quang Lễ đã vượt qua những khó khăn, thử thách để hoàn thành sứ mệnh và giấc mộng lớn của đời mình. Sau 11 năm học tập, làm việc trên đất Pháp, Phạm Quang Lễ nhận được các tấm bằng cử nhân, kỹ sư của các trường: Đại học Bách Khoa, Đại học Mỏ, Đại học Điện, Đại học Sorbonne, Đại học quốc gia Cầu đường Pa-ri, Học viện Kỹ thuật Hàng không.Nhờ những thành tích vượt trội trong học tập, Phạm Quang Lễ được nhiều công ty mời về làm việc. Ông từng từng làm việc cho ba công ty chế tạo máy bay của Pháp. Sau khi chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc năm 1945, ông đảm nhiệm vai trò thiết kế trưởng của hãng chế tạo máy bay Nord Aviation với mức lương rất cao. Cũng ở môi trường làm việc thuận lợi này, Phạm Quang Lễ có nhiều điều kiện để học tập, nâng cao hiểu biết, rèn luyện tay nghề về khoa học chế tạo vũ khí, thuốc súng.Để có được thành tích đó, Phạm Quang Lễ cũng đã phải tiết chế những thú vui cá nhân, một lòng một dạ theo đuổi con đường khoa học. Trong hồi ức của những người bạn cùng thời như bác sĩ Trần Hữu Nghiệp, Nguyễn Khắc Viện thì: “Suốt nhiều năm ở Pháp, anh Lễ chẳng biết đến rượu bia, không tập nhảy đầm, ít đi chơi giải trí. May ra, trong dịp nghỉ hè mới rủ được anh đi thuê xe đạp rong chơi dọc bờ sông Seine hoặc đạp về phía Nam nước Pháp thăm các vùng trồng nho, đi du lịch các nơi…”(3).Năm 1946, Phạm Quang Lễ là một trong số những thanh niên, trí trức Việt kiều ưu tú được gặp gỡ, tiếp xúc, trò chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người cùng đoàn của Chính phủ lâm thời sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau. Cảm kích, xúc động trước trí tuệ, nhân cách, bản lĩnh và tấm lòng yêu nước nồng nàn của vị lãnh tụ kính yêu, cùng tiếng gọi giục giã của non sông đất nước, Phạm Quang Lễ cùng một số trí thức Việt kiều Pháp đã theo Bác trở về nước phục vụ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.Nhớ lại những năm tháng tuổi trẻ của một chàng trai có khát vọng, hoài bão lớn, Giáo sư Trần Đại Nghĩa viết: “Tuổi trẻ thật là quý giá. Khi đã định hướng là khi ta không đánh mất mình trong dòng đời trôi nổi. Tuổi trẻ đủ sức mạnh giúp đã đứng dậy mỗi khi bị sức mạnh phũ phàng đánh ngã. Tuổi trẻ đủ dũng khí vượt lên trên con đường lẻ loi, âm thầm để đi tới tương lai. Tuổi trẻ khát khao tình yêu và cuộc sống, song khi đã có chí hướng, tuổi trẻ lại có thể dồn toàn bộ khát vọng cho tình yêu lớn”(4).MỘT VỊ TƯỚNG KHIÊM NHƯỜNG, GIẢN DỊNgay sau khi trở về Tổ quốc năm 1946, kỹ sư Phạm Quang Lễ được Bác giao trọng trách là Cục trưởng Cục Quân giới, trực tiếp phụ trách việc nghiên cứu, chế tạo vũ khí phục vụ đắc lực vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.Với những kiến thức, kinh nghiệm được học tập, nghiên cứu tại trời Tây, trong thời gian ngắn, bằng tài năng, trí tuệ, tinh thần nhiệt huyết, say mê, lòng yêu nước nồng nàn; sự quan tâm, tin tưởng, kỳ vọng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng, Chính phủ và toàn dân, toàn quân, Phạm Quang Lễ đã cải tiến và sáng chế ra nhiều loại vũ khí quân dụng, điển hình là súng Bazooka, súng SKZ 50mm, đầu đạn cỡ 160mm, đạn bay, đạn chống tăng AT. Những loại vũ khí đó góp phần quan trọng vào thành công của kháng chiến, đánh đuổi thực dân, đế quốc, giành và giữ vững nền độc lập, tự do của dân tộc.Đánh giá về hiệu quả và sức công phá của những loại vũ khí do Trần Đại Nghĩa chế tạo, Lucien Bodart trong Chiến tranh Đông Dương xuất bản tại Paris năm 1963 viết: “Cái thứ gây khó khăn cho chúng tôi, cái thứ xuyên thủng bê tông dày 60cm là những quả đạn SKZ. Chỉ cần vài quả là đã tiêu diệt được lôcốt của chúng tôi”(5).Để nhanh chóng chế tạo và cung cấp vũ khí, đạn dược cho quân đội trong cuộc kháng chiến kiến quốc, Trần Đại Nghĩa và các đồng chí, đồng đội đã trải qua những ngày tháng “nằm gai nếm mật”, đối diện với những khó khăn, thử thách, những mối nguy hiểm có thể đe dọa đến tính mạng bất cứ lúc nào nếu lỡ có một sai sót nhỏ hoặc một sơ ý, bất cẩn xảy ra. Nhưng với bản lĩnh của một nhà khoa học, niềm tin tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân; không khí sục sôi của cuộc chiến, những đòi hỏi của thời cuộc, sự hy sinh của đồng chí, đồng đội, đã trở thành động lực lớn để Trần Đại Nghĩa “quên ăn, quên ngủ”, quên những sinh hoạt thường ngày, “lơ đễnh” trong việc gia đình, toàn tâm, toàn trí, dồn mọi sức lực, trí tuệ để sáng tạo vũ khí.Chuyện kể rằng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, một hôm Giáo sư ra suối tắm. Thấy lâu không về, mọi người đổ xô đi tìm, tưởng có chuyện gì không may xảy ra. Đến nơi thấy Giáo sư đang ngồi trên một tảng đá giữa dòng suối, người vẫn còn khô. Hóa ra vì mải mê suy nghĩ phương án làm thuốc súng cháy chậm nên Giáo sư quên cả tắm.Trần Đại Nghĩa sống rất giản dị, chan hòa, chịu khó, chịu khổ, không khi nào phàn nàn về ăn, mặc. Vì mải tập trung suy nghĩ những vấn đề liên quan đến chế tạo vũ khí nên nhiều khi anh Nghĩa trở nên đãng trí, thậm chí không để ý đến bữa ăn, ăn cho qua chuyện, đi họp thì thường xuyên để quên mũ, nón, đi nhầm giày dép. Có lần chú liên lạc mua cho anh cái mũ khác và phải đề trên đó hàng chữ to cho khỏi lẫn: “Mũ này là của ông Trần Đại Nghĩa”(6).Năm 1947, Giáo sư Trần Đại Nghĩa gặp và kết hôn với nữ y tá Nguyễn Thị Khánh, người con gái xứ quan họ giàu lòng yêu nước, tích cực tham gia kháng chiến với nhiệm vụ khám, chữa bệnh cho các thương bệnh binh. Nhớ lại ngày lễ thành hôn tại chiến khu Bắc Kạn, bà kể: Đám cưới tổ chức rất giản dị tại cơ quan. Có ý kiến nói anh Nghĩa nên viết thư mời Bác Hồ và Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp đến dự, nhưng anh Nghĩa gạt đi và nói rằng Bác và anh Văn còn bận nhiều việc nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Vị tướng khiêm nhường, giản dị | Câu chuyện thời hoa lửa