Vị tướng người Tày đưa Bác Hồ về Pác Bó, Tư lệnh chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn và ý tưởng đào đường hầm đặt bộc phá đồi A1
Vị tướng người Tày đưa Bác Hồ về Pác Bó, Tư lệnh chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn và ý tưởng đào đường hầm đặt bộc phá đồi A1
Từ người thanh niên Tày hoạt động cách mạng ở vùng biên Cao Bằng, ông Lê Quảng Ba trở thành người trực tiếp dẫn đường đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về Pác Bó năm 1941...
Từ vùng biên Cao Bằng đến ngày dẫn lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về Pác Bó
Thiếu tướng Lê Quảng Ba, tên thật là Đàm Văn Mông, người dân tộc Tày, sinh năm 1915 tại Nà Nghiềng, xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng (cũ), tỉnh Cao Bằng. Sinh ra trên vùng đất biên giới có phong trào cách mạng phát triển sớm, ông tham gia hoạt động khi còn rất trẻ và năm 1932, lúc mới khoảng 17 tuổi được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
Những năm 1938-1940, Lê Quảng Ba cùng đồng chí Hoàng Sâm được giao hoạt động tại vùng Lục Khu, Hà Quảng. Đây là địa bàn hiểm trở, tình hình phỉ phức tạp, nhưng đồng thời lại có vị trí quan trọng trong việc xây dựng cơ sở cách mạng và mở tuyến liên lạc qua biên giới.
Năm 1940, ông Lê Quảng Ba được cử sang Tĩnh Tây, Trung Quốc, học quân sự. Chính tại đây ông gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Cuối năm ấy, Bác Hồ quyết định chọn hướng Cao Bằng để trở về nước và Lê Quảng Ba - người thông thuộc từng con đường, khe núi trên vùng biên, được giao một nhiệm vụ đặc biệt.

Thiếu tướng Lê Quảng Ba (giữa) cùng các tướng lĩnh quân đội. Ảnh: Tư liệu.
Trước khi trực tiếp dẫn đoàn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về Việt Nam, Lê Quảng Ba nhận nhiệm vụ đưa hàng chục thanh niên Cao Bằng đang ở Tĩnh Tây về khu vực Nặm Quang gần biên giới. Họ được tham gia lớp huấn luyện do Bác trực tiếp chỉ đạo chương trình, với các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên cùng tham gia giảng dạy.
Ngày 28/1/1941 trở thành một dấu mốc đặc biệt không chỉ trong cuộc đời Lê Quảng Ba mà còn trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, Bác Hồ vượt qua mốc 108 trên biên giới Trung Quốc - Việt Nam để trở về Tổ quốc. Người đi trước dẫn đường chính là đồng chí Lê Quảng Ba.
Từ Nặm Quang, ông dẫn đoàn men theo những con đường mòn giữa các dãy núi về Cao Bằng. Đi cùng Bác lúc đó còn có các đồng chí Phùng Chí Kiên, Thế An, Đặng Văn Cáp và Hoàng Văn Lộc.
Ngoài nhiệm vụ được đoàn thể cách mạng giao cho là đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Trung Quốc về nước đầu năm 1941, Lê Quảng Ba còn là người chịu trách nhiệm nơi ăn, chốn ở, nơi họp và bảo vệ Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ VIII do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì tại Khuổi Nặm (Pác Bó - Cao Bằng).

Ảnh: Tư liệu/QĐND.
Từ căn cứ Pác Bó, phong trào Việt Minh được xây dựng và nhanh chóng mở rộng. Tháng 11/1941, theo chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Đội du kích Pác Bó gồm 12 người được thành lập tại Pài Co Nhản, Lê Quảng Ba được giao làm Đội trưởng.
Đội có nhiệm vụ bảo vệ cơ quan lãnh đạo, làm giao thông liên lạc đặc biệt, vũ trang tuyên truyền, huấn luyện các đội tự vệ ở địa phương và làm nòng cốt xây dựng lực lượng vũ trang sau này. Những khẩu lệnh, động tác đội ngũ cơ bản cũng được tổ chức huấn luyện trong lực lượng này.


Đến cuối năm 1944, khi yêu cầu xây dựng một đội quân chủ lực của cách mạng được đặt ra, ông Lê Quảng Ba lúc đó phụ trách công tác quân sự ở Cao - Bắc - Lạng tiếp tục tham gia chuẩn bị lực lượng. Ông cùng các cán bộ trao đổi về tổ chức và tham gia lựa chọn những chiến sĩ đầu tiên cho Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, lực lượng được thành lập ngày 22/12/1944 dưới sự chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Tư lệnh chiến dịch vượt Thập Vạn Đại Sơn
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Lê Quảng Ba liên tục được giao những nhiệm vụ quân sự tại các địa bàn quan trọng ở miền Bắc. Ông từng đảm nhiệm các cương vị Phó Khu trưởng Khu 1, Khu trưởng Khu Hà Nội, Khu trưởng Khu 12, tham gia chỉ huy Mặt trận Đông Bắc và Duyên Hải - Đông Bắc. Sau Chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947, Khu 1 và Khu 12 được tổ chức lại thành Liên khu 1, Lê Quảng Ba tiếp tục đảm nhiệm trọng trách chỉ huy tại một địa bàn có ý nghĩa chiến lược đối với căn cứ Việt Bắc.
Năm 1949, sự nghiệp quân sự của ông có thêm một dấu mốc đặc biệt khi được giao làm Tư lệnh lực lượng Việt Nam tham gia Chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn trên đất Trung Quốc.
Khi cuộc nội chiến ở Trung Quốc bước vào giai đoạn cuối, phía cách mạng Trung Quốc đề nghị Việt Nam hỗ trợ xây dựng, mở rộng vùng căn cứ tại khu vực giáp biên. Theo quyết định của Bộ Tổng Tư lệnh Việt Nam và sự thống nhất giữa hai bên, Bộ Tư lệnh khu Thập Vạn Đại Sơn được thành lập, Lê Quảng Ba làm Tư lệnh, Trần Minh Giang - cán bộ phía Trung Quốc - làm Chính trị ủy viên.

Ảnh: Tư liệu/QĐND.
Lực lượng Việt Nam tham gia gồm bốn tiểu đoàn bộ binh và hai đại đội địa phương, phối hợp với các đơn vị Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc. Trước ngày lên đường vào tháng 5/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Lê Quảng Ba năm lời căn dặn: “Cẩn thận, bí mật, đoàn kết, hữu nghị, thắng lợi”.
Đầu tháng 6/1949, các đơn vị Việt Nam vượt biên giới theo hai hướng. Một cánh từ Cao Bằng, Lạng Sơn tiến sang khu vực Long Châu; cánh còn lại từ Lạng Sơn, Hải Ninh vượt dãy Thập Vạn Đại Sơn sang hướng Khâm Châu - Phòng Thành.
Đến cuối tháng 9 và tháng 10/1949, lực lượng cách mạng Trung Quốc ở phía nam đã nối được với chủ lực tiến xuống từ phía bắc. Bộ đội Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ và rút về nước, chỉ để lại một đại đội tiếp tục phối hợp làm nhiệm vụ xây dựng cơ sở và đánh địch ở vùng biên giới.
Đại đoàn trưởng 316 và những chiến trường từ Tây Bắc đến Điện Biên Phủ
Sau Chiến dịch Biên giới năm 1950, quân đội Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển các đơn vị chủ lực quy mô lớn. Tháng 5/1951, Đại đoàn 316 được thành lập và Lê Quảng Ba được giao làm Đại đoàn trưởng đầu tiên. Đây là một trong những đại đoàn chủ lực được sử dụng trên hướng rừng núi Tây Bắc. Trong những năm tiếp theo, Đại đoàn 316 tham gia các hoạt động quân sự tại Tây Bắc và Thượng Lào, từng bước mở rộng vùng giải phóng và tạo thế chiến trường trước khi bước vào trận quyết chiến chiến lược tại Điện Biên Phủ.
Cuối năm 1953, đầu năm 1954, Đại đoàn 316 hành quân lên Điện Biên. Trong chiến dịch, đơn vị được giao nhiệm vụ đặc biệt quan trọng tại hệ thống cao điểm phía đông tập đoàn cứ điểm, trong đó có C1, C2 và A1.
A1 là vị trí khó khăn nhất, các đợt tiến công trước đó chưa thể giải quyết dứt điểm cứ điểm này. Hệ thống công sự của quân Pháp trên đồi được bố trí chắc chắn, trong đó có một hầm ngầm kiên cố khiến các đợt tiến công gặp rất nhiều khó khăn.

Các đơn vị xung kích của bộ đội ta tấn công, tiêu diệt địch trên đồi A1. Ảnh: Tư liệu TTXVN.
Trước khi bước vào đợt tiến công cuối, Đại đoàn trưởng Lê Quảng Ba trực tiếp tìm gặp người dân địa phương để hỏi về cấu trúc cũ trên đỉnh đồi. Từ thông tin thu thập được, ông cùng Chính ủy Đại đoàn 316 Chu Huy Mân nghiên cứu một phương án khác: không chỉ đánh từ mặt đất mà đào một đường hầm xuyên vào bên dưới vị trí phòng thủ, đưa lượng thuốc nổ lớn vào phá công sự.
Giữa tháng 4/1954, Lê Quảng Ba báo cáo phương án với Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tham mưu trưởng chiến dịch Hoàng Văn Thái. Phương án được chấp thuận, gần 30 cán bộ, chiến sĩ sau đó đào hầm trong hơn nửa tháng ngay sát trận địa địch, có đoạn gặp đất đá rất cứng, địa bàn không thể sử dụng vì nhiễu từ, trong khi vẫn phải tuyệt đối giữ bí mật.

Thiếu tướng Lê Quảng Ba. Ảnh: Tư liệu.
Đến ngày 6/5/1954, đường hầm hoàn thành. Khoảng 1.000kg thuốc nổ được đưa vào lòng đồi. Khoảng 20 giờ 30 phút tối 6/5, khối bộc phá được kích nổ, trở thành hiệu lệnh cho đợt tiến công. Sau tiếng nổ lớn làm rung chuyển một phần A1, Trung đoàn 174 của Đại đoàn 316 từ các hướng xông lên đánh chiếm cứ điểm.
Cuộc chiến trên A1 tiếp tục diễn ra ác liệt trong đêm, nhưng đến sáng 7/5, quân Pháp tại đây bị tiêu diệt. Việc làm chủ A1 và các cao điểm phía đông khiến hệ thống phòng thủ trung tâm của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị đặt vào tình thế không thể cứu vãn. Chiều cùng ngày, toàn bộ tập đoàn cứ điểm thất thủ.
Sau năm 1954, Lê Quảng Ba tiếp tục gắn bó với địa bàn Việt Bắc. Ông giữ cương vị Tư lệnh Liên khu Việt Bắc, sau đó là Tư lệnh Quân khu Việt Bắc. Năm 1958, ông được phong quân hàm Thiếu tướng, là vị tướng người dân tộc Tày đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Năm 1960, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, Lê Quảng Ba được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương. Sau thời gian dài làm công tác quân sự, ông được giao phụ trách công tác dân tộc, giữ các cương vị Trưởng ban Dân tộc Trung ương và Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc của Chính phủ, đồng thời là đại biểu Quốc hội nhiều khóa.
Thiếu tướng Lê Quảng Ba qua đời năm 1988, hưởng thọ 73 tuổi.
(Nguồn tham khảo: Báo Quân đội nhân dân, Báo Cao Bằng, Báo Lâm Đồng, Bảo tàng LLVT Việt Bắc – Quân khu 1)



