VỊ TƯỚNG TÀI BA, NGƯỜI ĐƯỢC BÁC ĐẶT TÊN
Hành trình từ chàng thanh niên Nguyễn Vịnh đến Đại tướng Nguyễn Chí Thanh


Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (1914-1967) - Ảnh tư liệu
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (1914 - 1967) là vị đại tướng thứ hai của Quân đội Nhân dân Việt Nam sau Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đồng thời là người được phong thẳng quân hàm đại tướng vào năm 1959 mà không phải qua cấp bậc nào trước đó. Không chỉ là một vị tướng soái tài ba, ông còn là nhà lãnh đạo hoạt động sôi nổi, hiệu quả và để lại dấu ấn sâu đậm trên nhiều lĩnh vực.
Nguyễn Chí Thanh tên thật là Nguyễn Vịnh, sinh ngày 1 tháng 1 năm 1914 tại thôn Niêm Phò, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Câu chuyện đằng sau cái tên của ông mang một ý nghĩa đặc biệt. Tại Đại hội Quốc dân ở Tân Trào diễn ra từ chiều ngày 16 đến 17/8/1945, Ủy ban Dân tộc giải phóng gồm 15 người được cử ra, trong đó Nguyễn Vịnh đứng ở vị trí số 13. Trong bài viết “Vài mẩu chuyện nhỏ về Đại tướng Nguyễn Chí Thanh” đăng trên báo Quân đội Nhân dân, Tiến sĩ Nguyễn Thành Hữu – nguyên cán bộ nghiên cứu lịch sử Bộ Tổng tham mưu – kể lại rằng tại Hội nghị toàn quốc của Đảng ở Tân Trào vào tháng 8/1945, khi nghe xướng tên Nguyễn Chí Thanh trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nguyễn Vịnh đã quay sang hỏi đồng chí Võ Nguyên Giáp: “Nguyễn Chí Thanh là ai mà nghe lạ thế!”. Đồng chí Võ Nguyên Giáp mỉm cười đáp lời: “Là anh chứ ai nữa, chính Bác đặt tên cho anh đấy”. Vừa ngỡ ngàng vừa sung sướng, cái tên Nguyễn Chí Thanh từ đó chính thức gắn liền với lịch sử quân đội và cách mạng Việt Nam.
Tham gia cách mạng từ năm 1934 và gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1937, cuộc đời hoạt động của ông gắn liền với nhiều cương vị lãnh đạo trọng trách như: Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên, Bí thư Khu ủy khu IV, Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ, Bí thư Phân Khu ủy Bình - Trị - Thiên, Bí thư Liên khu ủy IV, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (1951), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, tiếp tục tái cử vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960). Tới năm 1961, ông được giao trọng trách Phụ trách Ban Nông nghiệp của Đảng, và trong giai đoạn 1965 - 1967, ông được phân công vào Nam giữ chức Bí thư Trung ương Cục miền Nam kiêm Chính ủy Quân Giải phóng miền Nam.
Dấu ấn vị tướng tài ba qua chiến lược chiến trường và lời hứa chưa thành
Theo Sắc lệnh số 36/SL ngày 31/8/1959 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 16 sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam được thăng quân hàm cấp tướng, trong đó có Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Phát biểu tại buổi lễ, Bác Hồ căn dặn các tướng lĩnh phải luôn cố gắng xứng đáng là người đầy tớ trung thành, tận tụy của nhân dân. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh khi đó đã long trọng đại diện hứa với Bác: ra sức học tập, nâng cao trình độ, góp phần xây dựng quân đội tiến lên chính quy, hiện đại, sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc và hòa bình; luôn trau dồi đạo đức cách mạng "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư", rèn luyện tác phong khiêm tốn, giản dị, thắt chặt đoàn kết quân dân để hoàn thành mọi nhiệm vụ Đảng, Chính phủ và Bác Hồ giao phó.
Khi vào chiến trường miền Nam làm Bí thư Trung ương Cục kiêm Chính ủy Quân Giải phóng miền Nam, Đại tướng đã đề ra chiến thuật đánh áp sát với phương châm “Nắm thắt lưng địch mà đánh”. Phương châm chiến lược này đã đem lại những chiến thắng vang dội liên tiếp tại Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài... Từ thực tiễn chiến trường, ông đã tổng kết, đúc rút kinh nghiệm thành các bài báo gửi ra miền Bắc dưới các bút danh Trường Sơn, Người quan sát, S.K.Z... Những bài viết không chỉ phản ánh sâu sắc cục diện chiến trường với cái nhìn của một người lăn lộn thực tế, mà còn bộc lộ tầm tư duy chiến lược xuất sắc. Các chiến thuật do ông vạch ra đã được thực hiện vô cùng hiệu quả, làm thay đổi cục diện và tương quan lực lượng, mang lại thắng lợi lớn cho Quân Giải phóng.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Cuối năm 1966, từ chiến trường miền Nam, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh ra báo cáo với Bác Hồ và Bộ Chính trị về tình hình chung, đồng thời chuẩn bị cho kế hoạch Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Theo lịch trình, ông sẽ trở lại miền Nam vào ngày 6/7/1967, nhưng định mệnh nghiệt ngã đã khiến ông không qua khỏi vì bạo bệnh đúng vào ngày hôm đó.
Cố Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh – con trai út của ông – từng chia sẻ rằng vào trưa ngày 5/7/1967, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã sang ăn cơm và chào tạm biệt Bác Hồ. Hôm ấy, Bác dặn dò: “Lần này chú vào, phải quyết tâm mở một chiến dịch lớn để giành lợi thế trên chiến trường, đón Bác vào thăm đồng bào chiến sĩ miền Nam”. Đến chiều tối cùng ngày, ông tiếp tục sang gặp Bác và tâm sự: “Cháu vào Nam, sẽ cố gắng đánh Mỹ cho tốt, thực hiện lời dặn của Bác, sớm đưa Bác vào thăm miền Nam. Bác cố gắng giữ sức khỏe”. Bác Hồ ân cần đáp: “Bác biết rồi. Chú cứ yên tâm vào Nam”. Đó cũng chính là đoạn đối thoại cuối cùng giữa Bác và Đại tướng.
Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh ngậm ngùi nhắc lại rằng cha ông đã không thể thực hiện trọn vẹn lời hứa đưa Bác Hồ vào thăm miền Nam, và bản thân Bác Hồ cũng không chờ được đến ngày đất nước thống nhất để thực hiện ước nguyện ấy. Khi hay tin Đại tướng Nguyễn Chí Thanh qua đời, đồng chí Lê Duẩn đã nghẹn ngào thốt lên: “Anh Thanh mất, mang theo tất cả đi rồi”.
Nhà thơ Tố Hữu – người bạn chiến đấu và đồng chí gắn bó từ những năm tháng cách mạng 1937 – đã viết những vần thơ đầy nước mắt để vĩnh biệt người bạn tri kỷ:
“...Tưởng lại đưa Anh ra chiến trường
Đường về, vó ngựa thắng dây cương
Ngày mai... Ai biết chiều nay phải
Vĩnh biệt Anh nằm dưới gốc dương! (...)
Ôi! Sống như Anh, sống trọn đời
Sáng trong như ngọc, một con Người!
Thanh ơi! Anh mất rồi chăng đấy?
Cứ thấy như Anh nở miệng cười!”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tại Đại hội Đảng bộ Quân đội năm 1960. Ảnh tư liệu

Đồng chí Nguyễn Chí Thanh tại Phân khu Bình - Trị - Thiên.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tại Chiến khu Việt Bắc năm 1951.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị phát biểu tại Lễ bế mạc Đại hội Thể dục Thể thao toàn quân (tháng 12/1959).



