Vị tướng "Tấn công “cánh cửa thép” Xuân Lộc
Tấn công “cánh cửa thép” Xuân LộcTheo kế hoạch của Bộ Tổng Tư lệnh và Bộ Tư lệnh miền, bước vào năm 1975, Quân đoàn 4 có nhiệm vụ mở rộng hành lang, chuẩn bị địa bàn cho các đơn vị chủ lực bạn cùng tham gia tấn công Sài Gòn - Gia Định. Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện đang là Chính ủy Binh đoàn Trường Sơn được điều về làm Chính ủy Quân đoàn 4.Tư lệnh Hoàng Cầm bấy giờ mang quân hàm thiếu tướng, trực tiếp phụ trách hướng Bắc và Tây Bắc Sài Gòn, chủ lực là Sư đoàn 9 và một số đơn vị phối thuộc, đánh chiếm chi khu Dầu Tiếng, mở rộng vùng giải phóng về phía Tây. Còn hướng Đông Bắc do Đại tá, Phó Tư lệnh Bùi Cát Vũ đảm nhiệm, gồm Sư đoàn 7 và một bộ phận Sư đoàn 341 mới từ miền Bắc vào, phối hợp với lực lượng Quân khu 6, Quân khu 7 để đánh chiếm chi khu Định Quán, làm chủ đường 20, tỉnh Lâm Đồng... Nhiệm vụ hoàn thành, Quân đoàn 4 được lệnh chuyển quân sang phía Đông để tập trung lực lượng bao vây, chờ thời cơ đánh thẳng vào Sài Gòn.
Từ phải sang, các tướng lĩnh: Hoàng Cầm, Trần Văn Trà, Nguyễn Chí Thanh, Văn Phác ở căn cứ Bộ Tư lệnh Miền thời chống Mỹ.Ngày 2/4/1975, Thượng tướng, Tư lệnh Quân Giải phóng Trần Văn Trà xuống Sở Chỉ huy Quân khu 7 ở bên bờ sông Đồng Nai, giao nhiệm vụ Quân đoàn 4 phối hợp Quân khu 7 tấn công thị xã Xuân Lộc. Trước tình hình mới cần điều chỉnh lực lượng, Tướng Hoàng Cầm đề nghị cho quân đoàn lùi nổ súng vào ngày 9/4. Tướng Trần Văn Trà đồng ý, rồi lên xe đi suốt đêm trở về Sở Chỉ huy miền để đón Đại tướng Văn Tiến Dũng mới từ Tây Nguyên vào căn cứ Lộc Ninh.Trận Xuân Lộc kéo dài 10 ngày, là trận mở màn cho Chiến dịch Hồ Chí Minh. Đây cũng là trận đánh lớn nhất, quyết liệt nhất, quan trọng nhất và cũng tổn thất nhiều nhất trong toàn bộ chiến dịch. Trước sự phản kích dữ dội của đối phương, Quân đoàn 4 gặp nhiều khó khăn khi đánh vỗ mặt vào Xuân Lộc. Thượng tướng Trần Văn Trà đã xuống trực tiếp cùng Bộ Tư lệnh quân đoàn tìm cách tháo gỡ khó khăn, chuyển hướng tiêu diệt Dầu Giây, cô lập Xuân Lộc,...Lực lượng quân đội Sài Gòn nghênh chiến ở Biên Hòa - Xuân Lộc có tổng số 25.000 quân. Sau khi mất Quân khu 1 và Quân khu 2, địch dồn quân về đồn trú ở đây để tử thủ. Đồng thời, theo yêu cầu của Tổng thống Gerald Ford, Đại tướng Frederick Weyand - Tham mưu trưởng Lục quân Mỹ và là cựu Tư lệnh cuối cùng của quân viễn chinh Mỹ ở Việt Nam, đã bay sang thị sát và lập phòng tuyến cố thủ Sài Gòn, xem Xuân Lộc là “cánh cửa thép”, lá chắn cuối cùng để tìm một giải pháp chính trị.Đại tướng Weyand khuyến cáo: “Phải giữ cho được Xuân Lộc. Mất Xuân Lộc là mất Sài Gòn”. Do đó, ngày 21/4, khi hay tin Xuân Lộc rơi vào tay Quân Giải phóng, tướng Weyand thốt lên: “Thế là hết! Tình hình quân sự là tuyệt vọng”, rồi vội vàng lên máy bay về Mỹ.Sau chiến thắng Xuân Lộc, Tướng Hoàng Cầm chỉ huy Quân đoàn 4 tiếp tục đánh chiếm Trảng Bom, Hố Nai, Biên Hòa, sở chỉ huy Quân đoàn 3, sân bay Biên Hòa; rồi tiến thẳng vào Sài Gòn đánh chiếm Bộ Quốc phòng, Dinh Gia Long, Bộ Tư lệnh Hải quân, kho xăng Nhà Bè... Khi đến căn cứ Sóng Thần, các chiến sĩ Quân đoàn 4 đã bắt sống Chuẩn tướng Lê Minh Đảo - Tư lệnh Sư đoàn 18, một viên tướng trẻ hiếu thắng vừa bại trận ở Xuân Lộc. Khi vào Sài Gòn thì quân đoàn bắt sống Trung tướng Lâm Văn Phát - Tư lệnh Biệt khu thủ đô của Việt Nam Cộng hòa...Đầu giờ chiều ngày 30/4, Tư lệnh Hoàng Cầm có mặt tại Dinh Độc Lập, chỉ huy Quân đoàn 4 tiếp quản nội các Dương Văn Minh theo nhiệm vụ được phân công. Nhớ lại sự kiện lịch sử này, Thượng tướng Hoàng Cầm cho hay: “Khi tôi vào Dinh Độc Lập thì được biết Tổng thống Dương Văn Minh cùng nội các của ông ta từ sớm đến lúc ấy vẫn chưa ăn uống gì. Tất nhiên, họ sợ hãi, không dám ngỏ lời. Đã 13 giờ 30 phút. Tôi liền bảo họ: Các ông có thể nhờ người nhà đưa cơm nước và đồ dùng cá nhân cần dùng tới, chứ đói chịu sao nổi! Họ lễ phép chắp hai tay cảm ơn. Và, đêm ấy, tôi cùng anh em binh lính nằm ngay trên hiên Dinh Độc Lập nghỉ ngơi. Dù đang đói ngủ nhưng tôi không tài nào chợp mắt được. Đã nằm trong Dinh Độc Lập rồi mà tôi cứ nghĩ mình đang mơ”.Là vị tướng có tâm hồn nghệ sĩ, mặc dù xông pha khắp chiến trường nhưng những lúc nghỉ ngơi Hoàng Cầm thường tranh thủ làm thơ như một thứ nhật ký chiến trận. Ông cũng hay làm thơ gửi về động viên vợ con. Mối tình của ông với bà Thành Kiều Vượng được mai mối bởi Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú Kim Ngọc - cha đẻ của khoán hộ gia đình trong nông nghiệp. Hai người cưới nhau năm 1955, mặc dù do công tác phải luôn xa nhau nhưng cũng sinh được 5 người con, tất cả đều phục vụ trong quân đội. Mỗi lần sinh nhật bà, ông đều làm thơ vui để tặng. Như bài thơ ông viết nhân sinh nhật lần thứ 60 của bà vào năm 1992:Đời em là một giấc mơ
Mơ chồng thắng trận, mơ cờ đảng viên
Chiến tranh mấy mươi năm liền
Mà em vẫn giữ bình yên như người
Đến nay tuổi đã sáu mươi
Năm con bảy cháu mừng vui bên bà
Tuổi em là tuổi con gà
Tuổi anh con khỉ nhưng mà đẹp đôi
Tuy rằng tóc bạc da mồi
Chúng ta vẫn giữ lứa đôi vẹn tròn
Còn trời còn nước còn non
Có dân có đảng ta còn sống lâu.Khi đọc cho tôi nghe bài thơ này xong, ông cười khà khà, hóm hỉnh bảo: “Anh thấy tướng mà làm thơ như vậy có hay không!”.



