Vị tướng từ đất Hà Thành
Tác giả: Nhữ Vũ Khánh Linh
“Giu-cốp của Việt Nam” – cách gọi ấy không phải tự nhiên mà có. Đằng sau biệt danh đặc biệt đó là một vị tướng nổi tiếng bởi tài cầm quân, sự quyết đoán và khả năng chỉ huy trên những chiến trường khốc liệt nhất. Nhưng trước khi trở thành một trong những vị tướng xuất sắc của Quân đội nhân dân Việt Nam, Lê Trọng Tấn chỉ là một chàng trai trẻ lớn lên ở vùng Yên Nghĩa, Hà Đông. Từ mảnh đất Hà Thành ấy, ông đã bước vào con đường cách mạng và dành trọn hơn bốn thập kỷ cho sự nghiệp chiến đấu, xây dựng quân đội và bảo vệ Tổ quốc.
Đại tướng Lê Trọng Tấn, tên thật là Lê Trọng Tố, sinh ngày 1-10-1914 tại làng Nghĩa Lộ, xã Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây, nay thuộc quận Hà Đông, Hà Nội. Tuổi thơ của ông không êm đềm. Mới 7 tuổi, ông đã mồ côi cha, phải vừa học vừa làm nhiều nghề để kiếm sống. Chính những năm tháng thiếu thốn ấy đã rèn cho người thanh niên Lê Trọng Tố một nghị lực mạnh mẽ.
Đầu năm 1944, ông rời Câu lạc bộ bóng đá Không quân của Pháp để tham gia cách mạng. Ban đầu, ông làm công tác địch vận tại khu vực Hoàng Mai, Hà Nội. Đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông tham gia Ủy ban Khởi nghĩa Hà Đông, phụ trách quân sự. Trong một trận đánh tại đồn Đồng Quan, ông đã thể hiện khả năng tổ chức và chỉ huy đầy quyết đoán. Chiến công ấy trở thành một trong những dấu mốc sớm cho thấy tố chất của một người chỉ huy quân sự.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Lê Trọng Tấn trưởng thành nhanh chóng qua nhiều cương vị chỉ huy. Đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, khi ông chỉ huy Đại đoàn 312 tiến công từ phía Đông vào khu trung tâm của tập đoàn cứ điểm. Đơn vị do ông chỉ huy là một trong những lực lượng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần vào thắng lợi quyết định của chiến dịch.
Nhưng Điện Biên Phủ chưa phải dấu mốc cuối cùng trong binh nghiệp của ông. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Lê Trọng Tấn tiếp tục được giao nhiều trọng trách tại những chiến trường quan trọng. Ông tham gia chỉ huy các chiến dịch như Bình Giã, Đồng Xoài, Đường 9 - Nam Lào, Trị - Thiên năm 1972 và nhiều chiến dịch khác. Khả năng nắm bắt tình hình, quyết đoán trong chỉ huy và luôn tìm cách phát huy thế mạnh của bộ đội đã giúp ông trở thành một trong những tư lệnh được tin cậy nhất.
Đặc biệt, trong mùa Xuân năm 1975, ông giữ cương vị Tư lệnh Chiến dịch Huế - Đà Nẵng. Sau khi Đà Nẵng được giải phóng, ông đề xuất thành lập cánh quân duyên hải, rồi trực tiếp chỉ huy lực lượng này tiến nhanh về phía Nam. Cánh quân đã vượt qua một chặng đường rất dài, nhanh chóng áp sát Sài Gòn và tham gia cuộc Tổng tiến công cuối cùng.
Điều khiến Lê Trọng Tấn được đồng đội kính trọng không chỉ nằm ở tài cầm quân. Ông đặc biệt coi trọng sinh mạng của người lính. Với ông, không có sự hy sinh nào là “không đáng kể”. Sau mỗi trận đánh, ông luôn quan tâm đến những chiến sĩ đã ngã xuống; khi có điều kiện, ông trở lại chiến trường và nghĩa trang để thắp hương cho đồng đội. Chính sự nghiêm khắc trong chiến đấu nhưng giàu tình cảm với người lính đã tạo nên một hình ảnh rất riêng của vị tướng trận mạc này.
Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục đảm nhiệm nhiều trọng trách quan trọng, trong đó có Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao. Năm 1984, ông được phong quân hàm Đại tướng.
Ngày 5-12-1986, Đại tướng Lê Trọng Tấn qua đời. Ông để lại trong lòng đồng đội hình ảnh một người chỉ huy kiên cường, quyết đoán nhưng luôn đau đáu trước sự hy sinh của người lính. Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng đánh giá ông là “người chỉ huy kiên cường, lỗi lạc, người bạn chiến đấu chí thiết”.
Từ một cậu bé nghèo của vùng Yên Nghĩa, Lê Trọng Tấn đã đi qua hơn bốn thập kỷ chiến đấu và trưởng thành cùng những bước ngoặt lớn của lịch sử dân tộc. Ông có mặt ở Điện Biên Phủ, ở những chiến trường ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ và trong những ngày tháng quyết định của mùa Xuân 1975. Danh xưng “Giu-cốp của Việt Nam” vì thế không chỉ nói về tài thao lược, mà còn gợi nhớ một người chỉ huy đã dành trọn cuộc đời binh nghiệp cho đất nước và những người lính dưới quyền mình.


