Vị tướng từng bị đi đày khi 16 tuổi, đảm nhiệm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, có công lớn giúp Campuchia hồi sinh đất nước
Vị tướng từng bị đi đày khi 16 tuổi, đảm nhiệm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, có công lớn giúp Campuchia hồi sinh đất nước
Trong cuộc đời binh nghiệp kéo dài hơn nửa thế kỷ, ngoài tham gia hai cuộc kháng chiến bảo vệ đất nước, ông còn có những năm tháng giúp nhân dân Campuchia bảo vệ thành quả cách mạng. Đặc biệt, ông còn để lại dấu ấn sâu sắc trong cách tiếp cận giải quyết vấn đề FULRO ở Tây Nguyên.
Đại tướng Đoàn Khuê - người từng bị đi đày khi mới 16 tuổi
Đại tướng Đoàn Khuê (1923-1999), quê xã Triệu Lăng, huyện Triệu Phong (cũ), tỉnh Quảng Trị, sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, có hai Bà mẹ Việt Nam Anh hùng và 6 người anh em là liệt sĩ.
Cha của Đại tướng Đoàn Khuê là cụ Đoàn Cầu. Với truyền thống yêu nước nồng nàn, cụ Đoàn Cầu tham gia cách mạng từ đầu thập niên 1920 của thế kỷ XX, từ tổ trưởng đọc báo, ông được kết nạp vào Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, rồi sau này được kết nạp vào Đảng Cộng sản. Từ cán bộ được phân công tổ chức Ủy ban Việt Minh và Ủy ban khởi nghĩa năm 1945, cụ trở thành Chủ tịch xã Triệu Tân (xã Triệu Lăng cũ) ngay sau khi cách mạng vừa giành được chính quyền.

Đại tướng Đoàn Khuê. Ảnh: Bộ Quốc phòng.
Mẹ của Đoàn Khuê là cụ Nguyễn Thị Dương, một người phụ nữ tần tảo sớm khuya. Trong tâm trí của ông Đoàn Khuê, mẹ ông là người phụ nữ dịu dàng, nhân hậu, đầy nghị lực, chịu thương, chịu khó chăm lo cho chồng con, cho cách mạng. Bà luôn tin tưởng vào con đường chồng và các con đã chọn. Năm 1954, bà thuộc diện cùng gia đình được tập kết ra bắc nhưng đã từ chối, ở lại quê nhà để nuôi dạy con cái và tiếp tục che chở cho cán bộ cách mạng hoạt động.
Năm 1957, khi chính quyền Ngô Đình Diệm áp dụng biện pháp chống cộng quyết liệt, gia đình đồng của Đoàn Khuê từng bị chính quyền đối phương đưa vào diện theo dõi đặc biệt vì có nhiều người tham gia cách mạng. Dù nhiều lần bị dụ dỗ, mua chuộc và gây sức ép, mẹ của ông vẫn giữ vững niềm tin với cách mạng. Bà từng bị bắt giam, tra tấn và nhiều lần đối mặt với hiểm nguy. Đến năm 1964, khi các con đều đã trưởng thành và tham gia hoạt động cách mạng, bà được tổ chức bố trí đưa ra miền Bắc.
Trước đó, Đoàn Khuê tham gia phong trào Thanh niên phản đế năm 1939 và bị thực dân bắt giam tại nhà lao Quảng Trị, sau đó đày lên Buôn Ma Thuột khi mới 16 tuổi. Sau khi ra khỏi nhà tù, ông trở về hoạt động, xây dựng cơ sở cách mạng tại Quảng Bình.
Tháng 6/1945, Đoàn Khuê được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và đảm nhiệm cương vị Chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh tỉnh Quảng Bình.
Sau khi ra tù, ông tiếp tục hoạt động cách mạng. Tháng 6/1945, Đoàn Khuê tham gia thành lập Tỉnh ủy lâm thời, làm Chủ nhiệm Việt Minh, Ủy viên Quân sự tỉnh Quảng Bình và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 8/1945, ông gia nhập quân đội.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông lần lượt trải qua nhiều cương vị cán bộ chính trị ở trường quân sự, trung đoàn, sư đoàn. Sau năm 1954, ông tiếp tục đảm nhiệm các chức vụ trong lực lượng pháo binh, Lữ đoàn 270 và Quân khu 4.
Từ năm 1964 đến năm 1975, Đoàn Khuê giữ cương vị Phó Chính ủy Quân khu 5, tham gia lãnh đạo, chỉ huy nhiều hoạt động quân sự trên một trong những chiến trường ác liệt nhất miền Nam.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, ông cùng tập thể Đảng uỷ quân khu, Bộ tư lệnh Quân khu 5 tham gia xử trí nhiều tình huống chiến trường, góp phần vào cuộc tiến công giải phóng Đà Nẵng và thắng lợi chung của cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Sau ngày đất nước thống nhất, Đoàn Khuê tiếp tục gắn bó với Quân khu 5. Giai đoạn 1977-1983, ông giữ cương vị Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5.
Từ năm 1983, ông được giao những trọng trách liên quan đến lực lượng quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam tại Campuchia. Năm 1987, ông Đoàn Khuê được bổ nhiệm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.
Năm 1990, ông được phong quân hàm Đại tướng. Từ tháng 8/1991 đến năm 1997, Đại tướng Đoàn Khuê giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương.
Cuộc đời hoạt động của ông vì thế trải qua gần như toàn bộ những giai đoạn lớn của lịch sử quân sự Việt Nam hiện đại, từ đấu tranh chống thực dân, hai cuộc kháng chiến giành độc lập, thống nhất, bảo vệ biên giới, làm nhiệm vụ quốc tế đến xây dựng quân đội trong thời kỳ đổi mới.
Đại tướng Đoàn Khuê - Vị tướng góp sức giúp Campuchia hồi sinh sau thảm họa diệt chủng
Một dấu ấn lớn trong sự nghiệp của Đại tướng Đoàn Khuê gắn với chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và những năm Việt Nam giúp nhân dân Campuchia bảo vệ thành quả cách mạng, khôi phục đất nước sau chế độ diệt chủng Khmer Đỏ.
Khi tập đoàn Pol Pot - Ieng Sary liên tục tiến hành các cuộc tiến công xâm lấn biên giới Tây Nam nước ta, ông Đoàn Khuê trên cương vị Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5 đã cùng Bộ tư lệnh Quân khu lãnh đạo, chỉ đạo các lực lượng tăng cường bảo vệ tuyến biên giới.
Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, ngày 10/6/1978, Tư lệnh Đoàn Khuê ban hành Mệnh lệnh số 395/TAC, tổ chức một đợt hoạt động quân sự vào hậu phương đối phương trên hai hướng.

Đồng chí Đoàn Khuê (giữa) - Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5 đi kiểm tra xác định đường biên giới, năm 1978. Ảnh: Tư liệu.
Hướng chủ yếu xuất phát từ khu vực biên giới huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai - Kon Tum, phát triển theo Quốc lộ 19; hướng phối hợp từ khu vực Bu Prăng, huyện Đức Lập, tỉnh Đắk Lắk, tiến sang Campuchia. Mục tiêu là đánh trả các hoạt động xâm lấn biên giới của quân Pol Pot, đồng thời tạo điều kiện để lực lượng cách mạng Campuchia mở rộng địa bàn hoạt động.
Cuối năm 1978, dưới sự chỉ đạo của Tư lệnh Đoàn Khuê, lực lượng vũ trang Quân khu 5 tổ chức phản công, tiến công, góp phần làm thất bại cuộc tiến công quy mô lớn của tập đoàn Pol Pot - Ieng Sary vào lãnh thổ Việt Nam. Sau đó, các đơn vị Quân khu 5 tiếp tục phối hợp với lực lượng cách mạng Campuchia tiến công, góp phần giải phóng đất nước Campuchia, giúp nhân dân nước này thoát khỏi thảm họa diệt chủng và từng bước khôi phục đất nước.
Trong hai năm chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của đồng chí Đoàn Khuê cùng Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 5, quân và dân trên địa bàn không chỉ đánh bại các cuộc tiến công, lấn chiếm của quân Pol Pot, giữ vững tuyến biên giới được giao mà còn kịp thời tăng cường lực lượng, phối hợp với các đơn vị bạn trong những chiến dịch lớn do Bộ Quốc phòng tổ chức.
Campuchia sau ngày 7/1/1979 đứng trước những hậu quả vô cùng nặng nề. Bộ máy chính quyền, lực lượng vũ trang, kinh tế và đời sống xã hội đều phải từng bước được khôi phục; trong khi tàn quân Khmer Đỏ tiếp tục hoạt động chống phá từ nhiều khu vực.
Trong hoàn cảnh đó, Việt Nam vừa phải giúp Campuchia bảo vệ chính quyền mới, vừa hỗ trợ xây dựng lực lượng để nước bạn từng bước có khả năng tự đảm đương nhiệm vụ bảo vệ đất nước.
Đầu năm 1983, Đoàn Khuê được giao làm Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh 719, đồng thời đảm nhiệm cương vị trong Ban lãnh đạo Đoàn chuyên gia Việt Nam tại Campuchia. Sau đó, ông trở thành Tư lệnh Bộ Tư lệnh 719 và Trưởng ban lãnh đạo Đoàn chuyên gia giúp Campuchia.
Bộ Tư lệnh 719 là cơ quan chỉ huy lực lượng quân tình nguyện Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia. Trên cương vị này, ông Đoàn Khuê cùng tập thể chỉ huy vừa tổ chức tác chiến chống các lực lượng Khmer Đỏ, vừa giúp Campuchia xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố chính quyền và giữ vững những thành quả đạt được sau khi chế độ diệt chủng bị đánh đổ.
Theo tài liệu của Báo Quân đội Nhân dân, trong giai đoạn 1983-1986, ông Đoàn Khuê đã chỉ đạo quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam khắc phục nhiều khó khăn, hỗ trợ cách mạng Campuchia phát triển lực lượng vũ trang và bảo vệ thành quả cách mạng.
Đó là một cuộc chiến khác với những chiến dịch trước năm 1975. Yêu cầu không chỉ là tiêu diệt lực lượng quân sự đối phương, mà còn phải tạo điều kiện để Campuchia xây dựng được lực lượng chính trị, quân sự của chính mình và ổn định đời sống xã hội.
Ngay cả công tác hậu cần cũng đặt ra những yêu cầu đặc biệt. Tài liệu của ngành Hậu cần Quân đội cho biết Đoàn Khuê cùng Bộ Tư lệnh 719 đã chỉ đạo tổ chức tiếp nhận vật chất, tăng gia sản xuất và cải tiến phương thức bảo đảm nhằm duy trì đời sống, sức chiến đấu của lực lượng quân tình nguyện trong điều kiện còn rất nhiều thiếu thốn.
Những năm tháng tại Campuchia cũng thể hiện khá rõ năng lực của Đoàn Khuê khi từ một cán bộ trưởng thành chủ yếu qua công tác chính trị, ông đảm nhiệm những vị trí chỉ huy quân sự và tham mưu ở cấp chiến dịch, chiến lược.
Năm 1987, khi được điều về giữ chức Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, ông Đoàn Khuê khép lại một giai đoạn đặc biệt trong binh nghiệp, sau nhiều năm trực tiếp gắn với nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia.
Từ “truy quét FULRO” đến “giải quyết vấn đề FULRO”
Khi chiến tranh kết thúc năm 1975, Tây Nguyên và nhiều khu vực thuộc địa bàn Quân khu 5 vẫn đối diện tình hình an ninh phức tạp. FULRO tiếp tục tổ chức lực lượng vũ trang, xây dựng cơ sở ngầm và tiến hành nhiều hoạt động chống chính quyền.

Đồng chí Đoàn Khuê (trái) - Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5 trong chuyến đi công tác cùng Tổng Bí thư Lê Duẩn ở Đắk Lắk ngày 10/4/1978. Ảnh: Tư liệu.
Theo tư liệu lịch sử, thời kỳ đầu sau năm 1975, lực lượng FULRO có lúc lên tới hàng chục nghìn người, hoạt động tại Tây Nguyên và các vùng phụ cận. Các lực lượng chức năng phải tổ chức nhiều đợt đấu tranh, truy quét nhằm phá vỡ các đơn vị vũ trang và hệ thống tổ chức của FULRO.
Trong bối cảnh đó, trên cương vị Tư lệnh kiêm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Quân khu 5, Đoàn Khuê cùng tập thể Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu nghiên cứu kỹ nguồn gốc, tính chất và phương thức hoạt động của FULRO.
Từ thực tế, ông cho rằng nếu chỉ sử dụng biện pháp quân sự để “truy quét” thì khó giải quyết vấn đề một cách căn bản. Từ đó, Quân khu 5 chuyển phương châm từ “truy quét FULRO” sang “giải quyết vấn đề FULRO”. Đây không đơn thuần là thay đổi câu chữ, mà là thay đổi cách tiếp cận.
Theo đó, giải pháp được triển khai đồng bộ trên nhiều mặt: quân sự, chính trị, xây dựng cơ sở, giáo dục vận động quần chúng, phát triển kinh tế - xã hội và các biện pháp nghiệp vụ của những lực lượng chức năng.
Tư duy này xuất phát từ nhận thức rằng FULRO không chỉ tồn tại dưới hình thức những toán vũ trang trong rừng. Sự tồn tại của tổ chức này còn liên quan đến những vấn đề lịch sử, dân tộc, đời sống kinh tế - xã hội và khả năng tác động vào một bộ phận đồng bào ở cơ sở.

Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Đoàn Khuê với nhân dân tỉnh Quảng Trị. Ảnh: Nhân Dân.
Vì thế, cùng với đấu tranh quân sự đối với các lực lượng vũ trang, yêu cầu quan trọng là củng cố chính quyền cơ sở, chăm lo đời sống đồng bào, vận động người dân, phân hóa lực lượng và đưa những người bị lôi kéo trở về với cộng đồng.
Các tài liệu chính thống sau này đánh giá sự chuyển hướng đó đã góp phần làm suy yếu dần hệ thống tổ chức và cơ sở hoạt động của FULRO, đồng thời củng cố an ninh chính trị trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên và Quân khu 5.
Thực tế cuộc đấu tranh với FULRO còn kéo dài nhiều năm sau khi ông Đoàn Khuê rời Quân khu 5. Trong giai đoạn 1979-1985, các lực lượng quân đội, công an với sự hỗ trợ của người dân đã đấu tranh, làm tan rã nhiều nhóm FULRO. Đến đầu những năm 1990, bộ phận FULRO còn lại tại Campuchia mất dần chỗ dựa và chấm dứt hoạt động vũ trang có tổ chức.
Nhìn lại cuộc đời Đại tướng Đoàn Khuê, có thể thấy những năm tháng ở Campuchia và quá trình giải quyết vấn đề FULRO là hai lát cắt tiêu biểu cho một đặc điểm trong tư duy quân sự của ông: không tách hoạt động quân sự khỏi chính trị, kinh tế, xã hội và công tác vận động quần chúng.
Từ người thanh niên 16 tuổi bị bắt rồi trải qua gần 5 năm trong lao tù thực dân, ông Đoàn Khuê đã đi qua hơn nửa thế kỷ hoạt động cách mạng, từ cán bộ chính trị cấp cơ sở đến Đại tướng, Tổng Tham mưu trưởng và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Ông qua đời ngày 16/1/1999.
Năm 2007, Đại tướng Đoàn Khuê được Nhà nước truy tặng Huân chương Sao Vàng. Cuộc đời và sự nghiệp của ông gắn với nhiều chiến trường, nhưng những câu chuyện về Khu 5, Tây Nguyên và Campuchia vẫn là những dấu ấn nổi bật khi nhắc đến vị Đại tướng quê Quảng Trị.
(Nguồn tham khảo: Cổng thông tin Bộ Quốc Phòng, Báo Quân đội nhân dân, Báo Nhân Dân)


