VÌ VĂN SANG NGƯỜI LÍNH, NGHỆ NHÂN KHƠ MÚ
Tháng 7 năm 2022, tôi đi nghỉ tại Trung tâm Điều dưỡng người có công tỉnh Yên Bái. Trung tâm là một tổ hợp nhà xây theo kiểu “Vi la”, đặt trên quả đồi thấp, thuộc xã Phúc Lộc, mà dưới chân là dòng sông Hồng đầy thơ mộng. Một tối trăng đẹp, mấy anh em ngồi ngắm dòng sông nước êm đềm trôi. Bỗng Vì Văn Sang - một “trại viên”, ngồi bên buột miệng: - Ngày chiến tranh, đánh nhau trên Lào, cũng có lúc ao ước được ngồi như thế này. Nhưng chỉ nghĩ thoáng qua thôi chứ biết chắc không thể nào có được! Tôi
Dòng nước dưới trăng vẫn xuôi. Im lặng. Tôi đang nghĩ về vị nghệ nhân nổi tiếng người dân tộc Khơ Mú này. Còn anh, Cựu chiến binh Vì Văn Sang, hình như anh đang hồi ức trận chiến ngày …....tháng …... năm…...... nơi chiến trường Lào.
Ánh trăng giữa khoảng trời trong veo, làm tôi gợi nhớ những năm tháng Trường Sơn 50 năm về trước. Khi đó, tôi là lính Đoàn 3005, trên đường vào Nam, dừng chân ở tỉnh XaVaNa Khẹt của nước bạn thuộc phía Tây dãy Trường Sơn. Giữa rừng đại ngàn, và giữa rừng trăng, lọt thỏm con sông Sê Pôn cuộn chảy. Chiều đó, hành quân đến trạm binh, lệnh của đường dây, cả Đoàn 3005 - phiên hiệu chiến trường của Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 246, được phép tắm sông. Lính tráng ào xuống, dòng nước trong vắt, mát đến lạnh người, đủ hồi lại sức lực hành quân đường trường. Đêm trăng trong, tôi và y tá Võ Xuân Hiếu ngồi trên một khúc cây bên dòng sông Sê Pôn Lào - Việt mà nhớ quê, mà tưởng tượng ngày được trở về. Nhưng ý nghĩ ấy của Hiếu, và cả tôi, lúc đó, cảm giác chỉ là ảo vọng. Chúng tôi sẽ nằm lại nơi nào đó trên mặt chiến trường B, C, D (Miền Nam, Lào, Campuchia)? Giờ, 50 năm sau, ngồi bên Cựu chiến binh Vì Văn Sang tôi vội xua tan tâm tư thực tế nhưng đã không diễn ra ấy. Trộm nghĩ, số phận có phần may mắn, là nhờ hàng vạn đồng đội đã thay mình.
- Anh Sang ơi!...
Người lính Ít Xa - la
Vì Văn Sang sinh năm 1947. Cũng là cái năm ảm đạm, thực dân Pháp đánh chiếm Yên Bái. Chỉ trong nửa tháng trời, xã Nghĩa Sơn và cả huyện Văn Chấn quê ông, nằm trong tay người Pháp. Cái “tích” ấy, sau này nó được nhen nhóm, tạo nên một động lực của gia đình và của chính con người ông. Cha mẹ sinh sáu người con thì ba anh em trai đều nhập ngũ chống Mỹ. Vì Văn Sang năm 1965. Anh cả Vì Văn Sâm vào Binh chủng phòng không năm 1966. Đứa em, Vì Văn Bản theo các anh, tòng quân đầu xuân 1974. Tháng 5 năm 1967, máy bay Mỹ ào ạt đánh Gia Phù (Phú Yên), Vì Văn Sang là chiến sĩ đầu tiên hôm đó, vác hòm đạn lên mâm pháo, pháo đại liên để Đại đội 4 kịp đánh đối đầu đám Thần Sấm, Con Ma Mỹ ngay sau hồi còi báo động.
Tháng 11 năm 1967, đơn vị ông nhận lệnh đi chiến trường B. Tại Lào, Vì Văn Sang được bổ sung vào đơn vị Ít Xa la (Liên quân Lào - Việt) và đụng đầu ngay trận Nậm Bạc, mở màn 28 tháng 12 năm 1967. Chiến dịch Nậm Bạc Thượng Lào kéo dài tới mười lăm ngày đêm mới kết thúc. Nậm Bạc được giải phóng. Sau này Báo Quân đội Nhân dân của ta gọi đây là “Chiến dịch thắng lợi cả về chính trị và quân sự”. Bởi lẽ nó được đồng hành cùng chiến dịch Mậu Thân dịp tết 1968 của bên Việt Nam trong khuôn khổ “Chiến trường Đông Dương”.
Tiểu đội trưởng Vì Văn Sang được giao một mũi đánh đồn Pa Mao. Đồn Pa Mao của Ngụy Lào khá kiên cố nhằm bảo vệ sân bay, luôn có cố vấn Mỹ giám sát. Nhổ được đồn này là cửa mở đánh sân bay Pa Mao. Đại đội Ít Xa La của ông đánh hướng đông từ 09 giờ sáng, đến 03 giờ sáng ngày hôm sau. Hai cánh quân của ta bị pháo sáng khống chế không lên được. Trung đội trưởng, Trung đội phó đều hy sinh. Tiểu đội cũng chỉ còn bốn người, tình thế khó khăn, Vì Văn Sang lấy danh nghĩa chỉ huy Trung đội hô anh em quyết tử giữ cửa mở. 05 giờ sáng quân tiếp viện của Đại đội đến, địch bỏ chạy. Ta làm chủ hoàn toàn đồn canh Pa Mao. Đại đội trưởng ra lệnh chốt giữ, Vì Văn Sang và Lò Văn Xi (người Than Uyên) đang làm nhiệm vụ, một tốp ngụy Lào ẩn náu, giờ mới tháo lui. Vì Văn Sang và Lò Văn Xi nổ súng chỉ thiên cùng hô áp đảo, cả tốp nguỵ hoảng sợ vứt súng giơ tay hàng.
Trận Pa Thí tháng 2 năm 1968 cũng là trận đáng nhớ.
Tiểu đội Vì Văn Sang được Chính trị viên phó tiểu đoàn Đỗ Văn Vinh (người Sơn Tây, sau được phong Anh hùng LLVTND) trực tiếp đưa đi mở đường. Đến cửa rừng, thấy yên tĩnh, cả Đại đội 11 ém quân vào vị trí tập kết chờ hiệu lệnh từ bộc phá. Đại đội trưởng Trần Phương vừa kiểm tra xong thì có lệnh. Toàn đại đội bao vây chặt bọn địch vừa co cụm về đây. Bị đánh bất ngờ, ngụy Lào chạy tán loạn và xin tha mạng.
Trận Long Choẹng, Vì Văn Sang có kỷ niệm sâu sắc với Lò Văn Nhài (Sau là Thiếu tướng, Phó Tư lệnh Quân khu II). Số là một đại đội của Tiểu đoàn 3 do Trần Khoát làm Tiểu đoàn trưởng, Lò Văn Nhài làm Chính trị viên, đang tập kết ở Mường Son thì bị tập kích. Bộ đội thương vong nhiều. Vì Văn Sang và Lò Văn Nhài đang ở trạm điều trị, Chính trị viên Lò Văn Nhài ra lệnh: - Đêm, dù một mình cũng phải lên đó giải vây!”. Khi Vì Văn Sang bò đến nơi, tiểu đội chín người đã cảm tử mở đường. Ba đồng chí hy sinh trong đó có một chiến sĩ Lào. Vì Văn Sang ghi dấu Liệt sĩ rồi đưa đồng đội bò thoát ra ngoài trước khi pháo binh địch bắn cấp tập.
Tháng 8 năm 1969, địch nống ra Xiêng Khoảng, đơn vị Vì Văn Sang được lệnh hành quân vượt sông Nậm Ngừm vào đánh Mường Sun. Đúng lúc này Bác Hồ mất. Quân ta lo lắng. Cả đơn vị nhận lệnh bí mật rút ra để chỉnh huấn. Trung đội 9 do Vì Văn Sang chỉ huy được giao ở lại. Ông cho đơn vị “rải binh” nhiều điểm, thỉnh thoảng nổ súng ở từng điểm. Địch phán đoán, nghi ngờ lực lượng lớn quân Việt - Lào đang điều binh ém quân nên không dám đánh. Chiến thuật ấy giúp cho toàn Tiểu đoàn nơi tập kết, học tập chính trị tưởng nhớ Bác Hồ an toàn.
*
Trăng trung tuần, làm cho mặt sông Hồng dù đỏ màu phù sa, vẫn cứ lấp lánh. Mấy anh em điều dưỡng đều là Cựu chiến binh, mỗi người có một “kho” kỷ niệm thời chiến tranh. Vậy mà ai nấy vẫn lặng yên nghe Vì Văn Sang kể chuyện. Với tôi, kẻ thích ghi chép nên tò mò cắt ngang câu chuyện.
- Anh Sang này. Dạo ở Tây Trường Sơn, anh nghe nhiều về lính nhà mình chứ?
- Ối! Nhiều. Tớ còn thuộc, còn đọc cả thơ Phạm Tiến Duật cho đồng đội nghe nữa cơ mà: Tiểu đội xe không kính này. Tiếng bom ở Siêng Phan này. Nhất là Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây. Pa Thét Lào - Xiêng Khoảng, họ thích lắm, nên họ quý mình lắm.
Tôi buột miệng: - Ông anh! Đúng là tư chất nghệ nhân có từ trai trẻ.
Vị Nghệ nhân, Cấp ủy
Năm 1999 tôi được Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin Nguyễn Ngọc Bái giao nhiệm vụ viết kịch bản và phối hợp với Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam (Bộ văn hoá - Thông tin) làm phim về văn hóa phi vật thể của người Khơ Mú. Tỉnh Yên Bái chỉ có hai xã: Túc Đán (Trạm Tấu) và Nghĩa Sơn (Văn Chấn) là có dân tộc này. Tôi lên Nghĩa Sơn, lần đầu gặp và làm việc với Vì Văn Sang với tư cách ông là Bí thư Đảng ủy xã. Đương nhiên là xã ủng hộ. Nhưng ông không khỏi vò đầu bứt tai, bởi lẽ quay phim tư liệu về Lễ đón Mẹ lúa thì phải chuẩn bị từ đầu vụ, giờ đã là tháng tư, lúa nương đã lên lá, dựng lại, tức làm trái mùa, không người già nào đồng tình chứ chưa nói đến... thầy mo! Bí thư Sang đem việc trao đổi với Chủ tịch xã Mè Văn Lún. Sau mấy ngày tác động và thuyết phục. Bố vợ Mè Văn Lún là cụ Lèo Văn Căm nhận lời cho mượn mảnh nương bỏ trống để đạo diễn dựng cảnh. Cụ Căm lại lọ mọ vận động bà con dân bản tham gia “nhân vật”. Sau khi đọc kịch bản, Vì Văn Sang đăm chiêu rồi tự tay chỉnh sửa, bổ sung quy trình lễ hội, lời thoại và động tác của các nhân vật. Ông cũng phá “lệ”, chuyển dịch thời gian cúng nương giờ nửa đêm, sang gần sáng để thuận lợi cho phóng viên ghi hình. Rồi đích thân đứng giữa “phim trường” điều hành diễn biến nghi lễ, lắp đặt đạo cụ, điều chỉnh nhân vật... y như một “đạo diễn” có nghề. Giai đoạn một của phim tài liệu - tư liệu “Lễ đón Mẹ lúa của dân tộc Khơ Mú” diễn ra hai ngày đêm rất suôn sẻ, Bà con dân bản hồ hởi. Các ông bà Mo (thầy cúng) mặc dù không muốn làm trái “ý trời” (trái vụ, trái thời gian...) nhưng cũng bằng lòng bởi vị nể những lời lẽ có lý có tình của vị Bí thư xã kiêm sự am hiểu phong tục tập quán và lễ hội dân gian của dân tộc mình.
Cũng từ cái cuộc khởi đầu ấy mà tôi biết hơn về con người Vì Văn Sang. Hóa ra “của chìm” đích thực trong ông, chưa có cơ hội nổi. Chỉ từ sau Nghị quyết TW5 khoá VIII (1998) “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam, tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Cả hệ thống vào cuộc trong đó có các nghệ nhân, những người cầm chìa khoá kho tài nguyên văn hóa dân gian (Folklor) của mỗi dân tộc chưa có cơ hội mở, thì giờ đây đã bắt đầu vào cuộc, đã bắt đầu hé lộ tiềm năng văn hóa vùng. Với Vì Văn Sang, phải từ khi hoàn thành trọng trách Bí thư Đảng ủy và các cương vị chức sắc khác, thì vị Cựu chiến binh Ít Xa la Khơ Mú này mới chuyên tâm vào phần việc giữ gìn vốn văn hóa dân tộc mình thông qua cả loạt chuyên đề Di sản mà ông cho rằng, đó vừa là sở trường, sở thích, vừa là trách nhiệm của người lính Cụ Hồ thời kỳ đất nước hội nhập này. Cũng là lạ, với người khác, có khi chỉ hiểu biết một vấn đề, và ham thích đi sâu vào vấn đề ấy. Nghệ nhân Vì Văn Sang thì khác. Ông phân loại và đi vào từng loại hình di sản một cách rành mạch: Sưu tầm, phục hồi các lễ hội như Cầu mưa, Đón Mẹ lúa, Cầu mùa, Xên đông (cúng rừng)...! Các làn điệu dân ca: Hát tơm, Hát ví, Hát vè. Các nhạc cụ và làn điệu nhạc cụ: Tính đơ la (tính cổ, khi chưa có chiêng), Đao (bằng tre nứa). Các phong tục, tập quán, truyện cổ, ca dao, tục ngữ... Khơ Mú song ngữ v.v... Làm được khối lượng công việc lớn như vậy, nhưng tôi vẫn chưa thấy vị nghệ nhân cho xuất bản cuốn sách nào đứng tên ông. Tò mò, tôi hỏi điều này. Nghệ nhân Vì Văn Sang thủng thẳng:
- Lính Ít Xa la mà anh. Nhiều thì nhiều đấy, nhưng làm xong, là... về!
Nói vậy thôi. Đã có cả chục bài viết về ông, và có cả chục phim tài liệu Bảo tồn Di sản Văn hóa có ông góp mặt. Đặc biệt, không ít nghệ nhân “nhí” mười năm trước, năm sáu năm trước, nay đã thành nghệ nhân trẻ từng đoạt Huy chương Vàng, Huy chương Bạc cấp tỉnh, cấp khu vực. Và ông, Nghệ nhân dân gian Việt Nam Vì Văn Sang, người truyền dạy, đã trở thành Nghệ nhân Ưu tú loại hình trình diễn. Ngày 13 tháng 5 năm 2015 Nghệ nhân Ưu tú Vì Văn Sang chăm chú lắng nghe Ban tổ chức xướng tên, rồi bồi hồi bước lên thềm danh dự nhận tấm Bằng - Danh hiệu do Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ký và trao tặng. Người con ưu tú của nhân dân xã Nghĩa Sơn, người Cựu chiến binh Ít Xa la, từng trọn vẹn nhiệm vụ Quốc tế, nay hoàn thành trọng trách Bí thư cấp ủy cơ sở. Nhưng hơn cả, là ông đã, đang và sẽ còn tiếp tục theo đuổi ý tưởng ghi chép, chỉnh lý, truyền dạy những giá trị văn hóa vô giá của dân tộc mình, góp vào văn hóa đất nước. Ở tuổi 75, sống tâm đức, sống yêu thương cùng cộng đồng làng bản và gia đình, Nghệ nhân Ưu tú, Cựu chiến binh Vì Văn Sang tự thấy mình hạnh phúc. Và xã Nghĩa Sơn rẻo cao quê ông cũng thấy mình Hạnh phúc.



