Người có công giúp đỡ cách mạng

VỊ VUA VỚI TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH GIÁO DỤC

An Giang20/10/2026Đặng Lê Mỹ Hân (Đoàn Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

1. Vị vua có tư tưởng canh tân

Vua Thành Thái tên húy là Nguyễn Phúc Bửu Lân, là con thứ 7 của vua Dục Đức, lên ngôi khi mới 10 tuổi trong bối cảnh khá đặc biệt của triều Nguyễn. Ông đăng quang ngày mồng 2 Tết năm Kỷ Sửu (1889) tại điện Thái Hòa mà không có “ngọc tỷ truyền quốc” và cũng chẳng có “di chiếu”. Hiểu rõ tình cảnh của vua cha và bối cảnh đất nước lúc bấy giờ nên vua Thành Thái khá thận trọng và già dặn trước tuổi.

Khác với những ông vua trong lịch Việt Nam, Thành Thái là người cấp tiến, ông không chỉ học chữ Hán mà còn học chữ Pháp và cho cả con cái của mình theo học chữ Pháp nữa. Vua Thành Thái chủ động tìm hiểu nghiên cứu các thiết bị kĩ thuật tân tiến của phương Tây và thường xuyên vi hành để tìm hiểu sự thống khổ của nhân dân. Qua những cuộc vi hành, vua Thành Thái càng hiểu thêm nổi đau của nhân dân lao động đang sống trong ách kìm kẹp của chính quyền thực dân Pháp. Vì vậy, vua Thành Thái ngày càng căm giận kẻ và khiến ông phải quyết tâm hành động.

Xuất phát từ nhu cầu xã hội và hoàn cảnh lịch sử đặc trưng trong bối cảnh giao thời giữa hai nền văn minh Việt – Pháp, vua Thành Thái chủ trương học tiếng Pháp và buộc phải cải cách nền giáo dục Hán học của nước nhà. Chính tư tưởng canh tân đất nước, đã thúc đẩy nhà vua phải tiến hành đổi mới giáo dục, tức là cần phải chuyển đổi nền giáo dục cũ sang nền giáo dục mới.

2. Tư tưởng canh tân giáo dục

Trong bối cảnh xã hội Việt Nam từ cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, sự xung đột, va chạm hai nền văn minh Đông – Tây, phía Việt Nam nhận ra nhu cầu nguồn nhân lực để kiến thiết quốc gia. Là người đứng đầu đất nước, vua Thành Thái đã thay đổi chiến lược và nhất thiết phải tiến hành canh tân xứ sở, bắt đầu từ vấn đề cải cách giáo dục. Nhờ đó, nền giáo dục Việt Nam đã có những thay đổi tích cực.

Ngày 17/9/1896, vua Thành Thái đã ký sắc dụ thành lập một trường học quốc gia tại Huế cho người Việt Nam được học văn minh văn hóa phương Tây lấy tên là “Pháp tự Quốc học trường” thường gọi là trường Quốc học. Đối tượng được vào trường học bao gồm: 1) Diện có học bổng của triều đình và được tuyển thẳng là con của hoàng thân, vương thân và thanh niên dòng dõi quý tộc, con của các quan lại, học sinh trường Quốc Tử giám tuổi từ 13 đến 20; 2) Những thanh niên thuộc tầng lớp bình dân đã đỗ kỳ thi sát hạch, đủ trình độ chữ Hán để hiểu bài giảng; 3) Trẻ em từ 8 đến 15 tuổi có thể theo học các khóa đặc biệt, phụ huynh phải có sự đồng ý của trưởng giáo. Chữ Hán và chữ Pháp là hai ngôn ngữ được sử dụng trong chương trình học tại trường Quốc Học.

Để chuẩn hóa đào tạo ngành nghề cho sứ mệnh canh tân đất nước, vua Thành Thái ban Dụ lập trường Bách công (Ecole professionnelle) để dạy nghề vào năm 1899. Đây cũng là trường dạy nghề duy nhất do triều đình nhà Nguyễn lập ra ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Cơ Mật Viện đề xuất, vua Thành Thái ban dụ giao cho hạ môn Vũ khố trích tiền công xây dựng Trường Bách công để dạy các nghề thợ sắt, thợ mộc, thợ rèn.

Theo đạo dụ, trường tuyển khoảng 200 học trò, mỗi tháng được 3 đồng học bổng. Ở đây, thầy giáo chỉ dạy việc kĩ nghệ mà không nói tới văn chương chữ nghĩa, học trò lười biếng và bị tố cáo việc khác sẽ bị đuổi học, ai phạm lỗi thì do quan coi trường khiển trách, giám thị trừng phạt. Qua các kì thi tay nghề, ai có kết quả tốt được cấp một số thợ, một tấm bằng, sau khi học nghề xong thi đỗ ra trường, có thể xin làm công ở Sở Đốc công hoặc làm cho tư nhân. Trường tổ chức dạy các ngành truyền thống như mộc, rèn, sắt và hoạt động như một trường học xưởng nghề với sự chỉ dẫn của các đốc công người Việt.

Tuy nhiên, trong bối cảnh hạ tầng cơ sở phát triển, giao thông vận tải đường bộ, đường thủy và đường sắt tăng, dẫn tới phát sinh nhu cầu phải có thợ sửa chữa tàu lửa, loại cộ và máy móc. Năm 1907, theo gợi ý của Khâm sứ Levecque, vua Thành Thái ra Dụ cho phép nhà trường được mở rộng các ngành nghề đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực cho xã hội. Từ đây, trường đào tạo nhiều ngành nghề theo nhu cầu xã hội như thợ rèn, thợ nguội, thợ tiện, thợ làm xanh chảo, thợ sắt tây, thợ khuôn, thợ mộc,…

Để chấn chỉnh việc thi cử và hạn chế những tiêu cực trong quá trình thi như mang tài liệu vào trường thi, nhờ người đi thi hộ, mua chuộc người coi thi,… Về quy định thi Hương: Theo quy định mà phía Pháp yêu cầu hệ thống giáo dục sẽ bao gồm ba cấp học là tiểu học, trung học và đại học. Trong kì thi Hương, ngoài những nội dung thi cử như trước đây, thí sinh phải thi môn tiếng Pháp và làm toán. Còn thi Hội: ba năm sẽ thi một lần và nếu ai đã đỗ Cử nhân, muốn đạt Tiến sĩ thì “phải làm đơn bẩm với bộ Lễ tự chọn nghị luận việc cổ và thời vụ đều một đề cho về làm, cốt được đầy đủ rộng rãi, phát minh nghĩa lý, mỗi đề phải viết được 50 trang giấy lệnh chỉ trở lên…”. Trong 18 năm trị vì, vua Thành Thái đã mở được 7 khoa thi, đều là chính khoa Tiến sĩ, lấy đỗ 121 người, trung bình mỗi khoa lấy đỗ 17 người.

Để tăng cường việc học chữ Quốc ngữ trong tầng lớp quý tộc trong triều đình, vua Thành Thái cho lập trường Tôn học để truyền dạy chữ Quốc ngữ. Theo đó, nhà vua giao cho Tuyên Hóa quận công Bửu Tán kiêm quản nhà trường, đặt 2 Trợ giáo, 5 Giáo học và 10 Thừa biện, lấy sảnh đường cũ của Cơ mật viện làm nơi giảng tập, chế cấp ấn có hiệu: “Kiêm quản Tôn học chi ấn” để làm việc, hàng tháng trích 300 đồng để phục vụ hoạt động dạy học của trường.

Trước tình hình giáo dục Nam Kì có nhiều thay đổi khi người Pháp chủ trương thiết lập theo mô hình phương Tây, vua Thành Thái đã ban hành Bản quy chế giáo dục năm 1906 áp dụng cho việc học ở Bắc Kì và Trung Kì, lần đầu tiên quy định cụ thể các bậc học và chương trình học cho từng cấp.  

Đến ngày 31/5/1906 (tức ngày 9 tháng 4 năm Thành Thái thứ 18), sau khi có sự có sự thống nhất giữa Hội đồng Cơ mật và Toàn quyền Paul Beau, Bản Quy chế giáo dục về cải cách các trường Nho học và các kỳ thi Hương được chính thức ban hành và thực thi. Nội dung chủ yếu của Bản quy chế giáo dục là đưa các trường bản xứ vào hệ thống giáo dục công, gồm có ba bậc:

Bậc Ấu học lập ở làng, ngân sách và việc thuê thầy do làng tự tổ chức lấy, các Giáo thụ, Huấn đạo trong vùng có trách nhiệm giám sát việc học ở trường này. Trường Ấu học dạy chữ Hán và chữ Quốc ngữ. Tốt nghiệp Ấu học, học sinh dự thi gọi là “Hạch tuyển”, người đậu sẽ được cấp bằng “Tuyển sinh”.

Bậc Tiểu học sẽ học trong 2 năm ở các phủ, huyện (trường Giáo thụ, trường Huấn đạo). Chương trình học tại trường bao gồm: chữ Hán và chữ Quốc ngữ, thêm môn số học và địa lí, cách trí, vệ sinh, luân lí, lịch sử đơn giản; tốt nghiệp Tiểu học, học sinh dự thi Khảo khóa, đỗ gọi là “Khóa sinh”;

Bậc Trung học dạy ở các trường tỉnh (trường Đốc học). Ở bậc này, học sinh sẽ học chữ Hán, chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp. Tốt nghiệp Trung học, học sinh thi “Hạch”, đỗ gọi là “Thí sinh”. Kể từ năm 1909, chỉ những người có bằng “Thí sinh” mới được dự thi Hương.

Như vậy cùng với những động thái của vua Thành Thái và chủ trương thực hiện một cuộc cải cách giáo dục trên toàn cõi Đông Dương, Bản quy chế giáo dục năm 1906 đã làm thay đổi tận gốc rễ hệ thống trường Nho học, nhưng yếu tố hiện đại của một nền giáo dục mới vẫn chưa được định hình rõ nét.

3. Kết luận

Với những biện pháp thực hiện trên lĩnh vực giáo dục đã phần nào mang lại một luồng sinh khí mới từ những ngôi trường, sách giáo khoa, đội ngũ giáo viên và chất lượng giáo dục để phục vụ cho công cuộc chấn hưng đất nước trong bối cảnh giao thời Đông – Tây.

Tuy những chính sách canh tân, đổi mới giáo dục chưa thực sự để lại dấu ấn sâu đậm, thậm chí còn được cho là có sự sắp đặt của người Pháp, nhưng phần nào đó đã thay đổi sự lạc hậu của một triều đình phong kiến, đổi mới để phù hợp với thời cuộc. Đó cũng chính là bài học thiết thực cho nền giáo dục Việt Nam, cần phải luôn đổi mới và chủ động bắt nhịp sự phát triển giáo dục trong bối cảnh có nhiều chuyển biến như hiện nay.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn