Anh hùng Lao động

VIỆN SĨ TRẦN ĐẠI NGHĨA – TẤM GƯƠNG CỐNG HIẾN TRỌN ĐỜI CHO KHOA HỌC QUÂN SỰ VÀ SỰ NGHIỆP GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

Vĩnh Long30/10/2026Hoàng Nhật Minh (Đại học Sư phạm Hà Nội 2)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc của Nhân dân Việt Nam trong thế kỷ XX là một chặng đường hào hùng, ghi dấu sự hy sinh, cống hiến vô bờ bến của biết bao thế hệ. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp gian khổ nhưng oanh liệt ấy, bên cạnh các chiến sĩ trực tiếp cầm súng ngoài mặt trận, có những nhà khoa học đã lặng lẽ đóng góp trí tuệ, đặt nền móng vững chắc cho ngành kỹ thuật quân sự nước nhà. Một trong những gương mặt tiêu biểu nhất cho tri thức cách mạng Việt Nam thời kỳ ấy là Giáo sư, Viện sĩ, Thiếu tướng, Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa.

Nhắc đến Giáo sư Trần Đại Nghĩa, người ta nhớ đến người "Cha đẻ" của ngành Quân giới Việt Nam, người sáng chế ra những vũ khí như Bazooka, SKZ làm khiếp đảm quân thù. Nhưng phía sau những chiến công khoa học lừng lẫy ấy còn là câu chuyện về một thanh niên yêu nước Phạm Quang Lễ từ bỏ cuộc sống đầy đủ nơi xứ người để trở về phụng sự Tổ quốc, một người cán bộ tận tụy và một tâm hồn giản dị, khiêm nhường.

1.Chàng trai miền Tây Nam Bộ và khát vọng vươn ra thế giới

Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa tên thật là Phạm Quang Lễ, sinh ngày 13 tháng 9 năm 1913 trong một gia đình nhà giáo nghèo tại xã Hòa Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. [1] Mồ côi cha từ khi mới 6 tuổi, ông lớn lên trong sự tần tảo nuôi dưỡng, chăm sóc của mẹ là bà Lý Thị Diệu và chị gái. Trước khi qua đời, cha ông – thầy giáo Phạm Quang Mùi – đã dặn dò con phải học hành đến nơi đến chốn và biết mang hiểu biết của mình giúp ích cho đời.

Nhờ sự động viên của mẹ cùng sự giúp đỡ từ đồng nghiệp của cha, Phạm Quang Lễ đã đạt nhiều thành tích học tập xuất sắc. Năm 1926, ông thi đỗ hạng ưu vào Trường Trung học Mỹ Tho và được nhận học bổng 4 năm (1926 – 1930). Năm 1930, ông được tuyển thẳng vào Trường Trung học Pétrus Ký (Sài Gòn) với học bổng 3 năm liền. Đến giữa năm 1933, ông thi đỗ đầu cả hai bằng Tú tài Việt (Tú tài bản xứ) và Tú tài Tây. [1] Tuy được cấp học bổng đi học ở Hà Nội, nhưng vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, Phạm Quang Lễ quyết định ở lại làm việc tại Tòa sứ Mỹ Tho (Tòa bố chính Mỹ Tho) để kiếm tiền giúp mẹ và chị, đồng thời chờ cơ hội du học.

Tại đây, ông gặp nhà báo Dương Quang Ngưu (còn được ghi là Vương Quang Ngưu) – một Việt kiều yêu nước từ Pháp trở về. Nhận thấy tố chất và chí hướng của người thanh niên trẻ, ông Ngưu đã vận động Hội Ái hữu Trường Chasseloup-Laubat cấp học bổng 1 năm cho Phạm Quang Lễ sang Pháp du học vào năm 1935.

2.Từ tri thức Paris đến quyết định trở về phụng sự Tổ quốc

Tại Pháp, để tiết kiệm thời gian, ông đã rút ngắn chương trình dự bị và thi đỗ vào Đại học quốc gia Cầu đường Paris. Trong suốt 11 năm học tập và làm việc tại châu Âu, Phạm Quang Lễ đã nỗ lực phi thường, tự học tiếng Đức để nghiên cứu tài liệu gốc và tốt nghiệp kỹ sư, cử nhân toán học tại nhiều ngôi trường danh tiếng: Trường Bách khoa Paris, Đại học Mỏ, Đại học Điện, Đại học Sorbonne, Đại học Cầu đường Paris và Học viện Kỹ thuật Hàng không. [1] Ông đã âm thầm thu thập, ghi chép hơn 30.000 trang tài liệu mật về vũ khí và thuốc nổ. [4]

Sau khi tốt nghiệp, ông làm việc tại Trường Quốc gia Hàng không và Vũ trụ, từng làm việc cho 3 công ty chế tạo máy bay của Pháp và đảm nhiệm vai trò thiết kế trưởng của hãng chế tạo máy bay Nord Aviation với mức lương rất cao. [1][4] Năm 1942, ông sang Đức làm việc trong xưởng chế tạo máy bay và Viện nghiên cứu vũ khí. [1] Trong những năm tháng sống xa quê hương, ông giữ lối sống vô cùng giản dị, dành toàn bộ thời gian cho con đường khoa học.

Tháng 5 năm 1946 (trong chuyến công tác tại Pháp từ tháng 7/1946 theo một số tư liệu), Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp thương thuyết với chính phủ Pháp và dự Hội nghị Fontainebleau. [3] Phạm Quang Lễ vinh dự có mặt trong đoàn đại biểu Việt kiều đến thăm Bác. Khi Bác hỏi liệu có chịu đựng được cuộc sống khó khăn gian khổ trong nước không, ông trả lời có thể chịu được. [3] Bác hỏi tiếp về khả năng chế tạo vũ khí khi thiếu kỹ sư, công nhân và máy móc, ông đáp: "Thưa Bác, tôi đã chuẩn bị 11 năm rồi, tin tưởng là làm được!". [3]

Ngày 16 tháng 9 năm 1946, kỹ sư Phạm Quang Lễ cùng kỹ sư luyện kim Võ Quý Huân, bác sĩ Trần Hữu Tước và một số trí thức Việt kiều đã theo Chủ tịch Hồ Chí Minh lên tàu trở về nước. [3] Ngày 5 tháng 12 năm 1946, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp giao cho ông nhiệm vụ Cục trưởng Cục Quân giới, đồng thời đặt tên mới cho ông là Trần Đại Nghĩa nhằm gắn với nhiệm vụ lớn lao và giữ bí mật cho gia đình ông ở miền Nam. [1][3] Trong quân đội, ông còn đảm nhiệm chức vụ Giám đốc Nha Nghiên cứu Quân giới thuộc Bộ Tổng Tư lệnh. [1]

3. Những chiến công khoa học lừng lẫy trên chiến trường kháng chiến

Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ ngày 19 tháng 12 năm 1946, Quân đội nhân dân Việt Nam gặp muôn vàn thiếu thốn. Từ tháng 6 năm 1946, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã giao ngành Quân giới nghiên cứu sản xuất súng chống tăng Bazooka nhưng gặp nhiều trở ngại kỹ thuật. [3] Tiếp quản chương trình này từ tháng 11 năm 1946, Trần Đại Nghĩa cùng các cộng sự, cán bộ kỹ thuật và công nhân quân giới đã tính toán lại thông số, điều chỉnh thuốc phóng, vận dụng sáng tạo kiến thức học ở châu Âu vào điều kiện vật liệu thực tế tại Việt Nam. [3]

Tháng 2 năm 1947, súng Bazooka do Việt Nam chế tạo thử nghiệm thành công. [3] Ngày 3 tháng 3 năm 1947 (một số tài liệu ghi ngày 5 tháng 3 năm 1947), súng Bazooka do Cục Quân giới sản xuất được đưa vào chiến đấu: 3 khẩu súng và 10 quả đạn chuyển về Trung đoàn Thủ đô đã bắn cháy 2 xe tăng Pháp tại khu vực Sơn Lô, chùa Trầm, Quốc Oai (Hà Nội). [2][3] Đến tháng 4 năm 1947, súng Bazooka bắt đầu được sản xuất hàng loạt đưa ra các chiến trường.

Sau thành công của Bazooka, Cục trưởng Trần Đại Nghĩa cùng các cộng sự tiếp tục nghiên cứu chế tạo súng không giật SKZ. [3] Cuối tháng 5 năm 1949, súng không giật SKZ 60 (cỡ 60mm, đầu đạn nặng khoảng 9 kg, có thể xuyên thủng bê tông dày trên 60 cm) bắn thử thành công tại thành cổ Tuyên Quang. [1][3]

SKZ lập chiến công lớn trong Chiến dịch Lê Hồng Phong năm 1950, phá tan các boong ke, lô cốt kiên cố của đối phương. [3] Sức mạnh công phá của vũ khí này khiến quân đội Pháp kinh hoàng, đúng như nhà báo Lucien Bodart viết trong tác phẩm Chiến tranh Đông Dương (Paris, 1963): "Cái thứ gây khó khăn cho chúng tôi, cái thứ xuyên thủng bê tông dày 60cm là những quả đạn SKZ. Chỉ cần vài quả là đã tiêu diệt được lô cốt của chúng tôi". [1][4]

Tháng 1 năm 1948, ông được phong quân hàm Thiếu tướng trong đợt phong quân hàm đầu tiên của Quân đội. [1] Tháng 5 năm 1949, ông trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. [1] Tại Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc đầu tiên năm 1952, ông vinh dự được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động. [1]

4. Tấm gương vị tướng khiêm nhường và nhà quản lý khoa học kiệt xuất

Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Thiếu tướng, Giáo sư Trần Đại Nghĩa tiếp tục đảm nhiệm nhiều trọng trách. Trong Quân đội, ông từng giữ chức Cục trưởng Cục Pháo binh (1949 – 1954), Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần (1966), Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật (1974 – 1977). [1] Ở lĩnh vực quản lý nhà nước và khoa học dân sự, ông kinh qua các chức vụ: Thứ trưởng Bộ Công thương, Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nặng, Ủy viên Ủy ban Khoa học Nhà nước, Chủ nhiệm Ủy ban Kiến thiết Cơ bản Nhà nước (1964 – 1971), Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước (1965 – 1977), Viện trưởng đầu tiên của Viện Khoa học Việt Nam (1975 – 1983), Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (1983 – 1988), và là Đại biểu Quốc hội khóa II, III. [1][2]

Năm 1956, khi Trường Đại học Bách khoa Hà Nội thành lập, Giáo sư Trần Đại Nghĩa là Hiệu trưởng đầu tiên. [1] Năm 1966, ông được bầu làm Viện sĩ nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô. [1] Năm 1996, ông được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 cho Cụm công trình nghiên cứu và chỉ đạo kỹ thuật chế tạo vũ khí thời kỳ 1945 – 1954. [1][2]

Dù giữ nhiều cương vị cao, Giáo sư Trần Đại Nghĩa luôn sống hết sức giản dị, khiêm nhường. [2] Đồng đội và người thân thường gọi ông là "Ông Phật làm súng" hay ông Nghĩa "lơ đễnh" vì ông luôn chìm đắm trong suy tư khoa học. [2] Khi được hỏi về lý do rời bỏ cuộc sống đầy đủ tại Pháp để về nước kháng chiến, ông nói: "Bạn bè của tôi ở lại bên Pháp, họ đều sung sướng, đầy đủ hơn tôi rất nhiều. Nhưng về khía cạnh phụng sự Tổ quốc, họ chẳng có gì cả." [2]

Thái độ cống hiến vô tư ấy được ông ghi lại trong sổ tay vào ngày lịch sử 30 tháng 4 năm 1975: “Ngày 30/4/1975, nhiệm vụ của tôi đã hoàn thành, vì hoài bão của tôi hồi nhỏ, sứ mạng của tôi rất đơn giản là tham gia về mặt khoa học, kỹ thuật vũ khí trong cuộc đấu tranh vũ trang cách mạng để giải phóng đất nước, và nay đất nước đã được giải phóng, tôi không muốn gì hơn nữa, vì một đời người không thể làm hơn”. [2]

Ông từ trần lúc 16 giờ 20 phút ngày 9 tháng 8 năm 1997 tại Thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 84 tuổi. [1] Ông đã được trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công, Huân chương Kháng chiến cùng nhiều phần thưởng cao quý khác. [1]

5.Từ di sản của Giáo sư Trần Đại Nghĩa đến trách nhiệm của thế hệ hôm nay

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ những năm tháng chiến tranh gian khổ, tên tuổi của Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa ngày nay được trang trọng đặt cho nhiều con đường, trường học, tàu khảo sát biển và giải thưởng khoa học lớn trên khắp cả nước. [1]

Câu chuyện cuộc đời của Giáo sư Trần Đại Nghĩa gợi cho thế hệ trẻ hôm nay, đặc biệt là những sinh viên đang theo học ngành Sư phạm, nhiều bài học sâu sắc:

Thứ nhất là về hoài bão và ý chí vươn lên: Một học sinh nghèo mồ côi cha ở vùng quê Nam Bộ đã bằng nghị lực phi thường vươn lên chiếm lĩnh đỉnh cao tri thức khoa học thế giới.

Thứ hai là về tinh thần cống hiến: Sẵn sàng từ bỏ nhung lụa nơi xứ người, vượt qua khó khăn thiếu thốn để đưa tri thức phục vụ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.

Thứ ba là về sự khiêm nhường và đạo đức sống: Luôn giữ lối sống giản dị, chân thành, coi sự cống hiến cho Tổ quốc là niềm hạnh phúc lớn nhất của đời người.

Thế hệ trẻ sinh ra trong hòa bình không phải trải qua mưa bom bão đạn, nhưng có trách nhiệm tiếp nối di sản của thế hệ cha anh: học tập nghiêm túc, làm chủ khoa học công nghệ, rèn luyện đạo đức và sẵn sàng đóng góp sức trẻ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

KẾT LUẬN: MỘT NGHĨA LỚN TRỌN ĐỜI VỚI QUÊ HƯƠNG, TỔ QUỐC

Từ một kỹ sư tài năng ở Paris đến vị tướng chỉ huy ngành Quân giới tại chiến khu Việt Bắc, Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa đã đi qua những chặng đường lịch sử đầy vẻ vang của dân tộc. Đúng như tên gọi Bác Hồ đã đặt cho ông, toàn bộ cuộc đời ông là một chuỗi những cống hiến vì "Đại Nghĩa" – vì độc lập, tự do của Tổ quốc và hạnh phúc của Nhân dân.

Nhìn lại cuộc đời ông, chúng ta hiểu rằng sức mạnh của dân tộc Việt Nam không chỉ đến từ lòng dũng cảm, mà còn được nhân lên gấp bội bởi trí tuệ khoa học và tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc. Tấm gương sáng ngời của ông sẽ luôn là ngọn đuốc soi đường, là nguồn cảm hứng mạnh mẽ để các thế hệ hôm nay và mai sau không ngừng học tập, cống hiến vì một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Wikipedia tiếng Việt, “Trần Đại Nghĩa”, có thể tra cứu tại: https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_%C4%90%E1%BA%A1i_Ngh%C4%A9a

[2] Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, “Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa - Nhà khoa học tài ba, vị tướng khiêm nhường, giản dị”, có thể tra cứu tại: https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3098/74165/giao-su-vien-si-tran-djai-nghia-nha-khoa-hoc-tai-ba-vi-tuong-khiem-nhuong-gian-di.html

[3] Báo VietNamNet, “GS Trần Đại Nghĩa: Cuộc trở về năm 1946 và trọng trách kiến tạo ngành Quân giới”, có thể tra cứu tại: https://vietnamnet.vn/gs-tran-dai-nghia-cuoc-tro-ve-nam-1946-va-trong-trach-kien-tao-nganh-quan-gioi-2568309.html

[4] Thịnh Vượng Việt Nam, “Trần Đại Nghĩa – "Ông Vua vũ khí Việt Nam"”, có thể tra cứu tại: https://thinhvuongvietnam.com/Content/tran-dai-nghia---ong-vua-vu-khi-viet-nam-10166


Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn