Khác

Vịnh Mốc: Huyền thoại của lũy thép, lũy hoa

Trong số hàng nghìn mét địa đạo trải dài khắp Vĩnh Linh, Vịnh Mốc được coi là một huyền thoại bất tử, nơi đã chở che, nuôi nấng và ươm những hạt mầm hy vọng cho vùng lũy thép, lũy hoa. Vịnh Mốc cũng chính là công trình tiêu biểu nhất cho ý chí quật cường, không chịu lùi bước trước kẻ thù xâm lược của cha ông.

Gia Lai24/04/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Vịnh Mốc là một vùng đất có vị trí đặc biệt trong lịch sử Vĩnh Linh nói riêng, Quảng Trị nói chung. Nhìn trên địa đồ, đây là một triền đất đỏ bazan nằm sát biển, cách thị trấn Hồ Xá 14km về phía đông, cách Cửa Tùng 8km về phía bắc. Phía đông là đảo Cồn Cỏ.

________________________________________

Trong những năm kháng chiến, Vịnh Mốc không những là địa đầu miền bắc xã hội chủ nghĩa, mà còn là địa điểm rất thuận lợi cho việc tập kết lương thực, thực phẩm và vũ khí để tiếp sức bảo vệ đảo Cồn Cỏ, chi viện cho chiến trường miền nam bằng đường biển.

Chính vì vị trí trọng yếu ấy, tháng 8/1964, khi bắt đầu chiến dịch leo thang đánh phá ra miền bắc, quân đội Mỹ đã tập trung cô lập và quyết tâm tiêu diệt bằng được “tiền tiêu” địa đầu. Địch sử dụng không quân, hải quân, trong đó có cả máy bay chiến lược B52, hàng trăm nòng súng các loại từ căn cứ Cồn Tiên, Dốc Miếu bắn ra, ngày đêm đánh phá các xã dọc bờ biển Cửa Tùng thuộc khu vực Vĩnh Linh.

Tới giữa năm 1965, sự đánh phá của quân xâm lược ngày càng ác liệt khiến Vịnh Mốc và một số làng của Vĩnh Thạnh đều bị bom đạn cày xới ác liệt. Đứng trước tình thế cam go ấy, Đảng bộ, quân và dân Vĩnh Thạch thực hiện quyết tâm của Khu ủy Vĩnh Linh: “Quân sự hóa toàn dân, công sự hóa toàn khu vực”.

Năm nay đã 88 tuổi, nhưng ông Hồ Văn Triêm vẫn vô cùng minh mẫn. Từng là xã đội phó Vĩnh Thạch, ông chính là người đã trực tiếp chỉ đạo người dân phối hợp với lực lượng vũ trang đào địa đạo gần 60 năm về trước.

Nhớ lại khoảng thời gian đặc biệt này, ông Triêm kể: Từ giữa năm 1965, lực lượng vũ trang, bán vũ trang đã được xây dựng khắp Vĩnh Thạch. Lần lượt các đội sản xuất, tổ thuyền chắc tay súng, vững tay cày/tay chèo ra đời. Có cụ già 60 tuổi cũng hăng hái xin vào dân quân để chiến đấu và chở hàng ra đảo Cồn Cỏ.

Để đối phó với sự tàn phá của bom, đạn quân thù, nhân dân Vĩnh Thạch, dưới sự hướng dẫn của Đồn Công an vũ trang 140 đóng trên địa bàn bắt đầu xây dựng hệ thống hầm đào, trận địa rộng khắp, nhất là các trận địa 12 ly 7, trận địa pháo 57 ly, các điểm chốt dọc bờ biển và hàng trăm mét giao thông hào chằng chịt trên mặt đất. Hàng trăm hầm các loại cũng được xây dựng khắp nơi: Hầm trong nhà, hầm dọc đường, hầm nơi sản xuất, hầm lán, hầm chữ L, hầm móoc, hầm bằng, hầm chữ A… Nhà nối nhà, hầm nối hầm, đội nối đội đã được thông nhau liên hoàn. Đây cũng là “tiền đề” đầu tiên hình thành nên ngôi làng địa đạo vài tháng về sau.

Ngừng lại một lát, ông Triêm kể tiếp: Sự xuất hiện của nhiều loại vũ khí mới như bom tấn, bom đào, bom nổ chậm và đặc biệt là bom khoan đã khiến cho các loại hầm trước đó trở nên không còn an toàn nữa. Lúc này, Chi bộ Vịnh Mốc họp lại và ra Nghị quyết: “Phải đào địa đạo”. Người Vịnh Mốc, vì sự tồn vong của mình, cũng vì cuộc chiến trước mắt đã quyết định đưa cả ngôi làng của mình “lặn sâu” vào trong lòng đất.

Cả ngôi làng “lặn sâu” vào lòng đất. Công tác cứu chữa thương binh cũng được thực hiện trong lòng địa đạo.

Anh Lê Xuân An, con trai cụ Lê Xuân Vi, nguyên Đồn trưởng Đồn Công an vũ trang 140 kể lại: Ngày còn sống, cha anh được coi như “tổng công trình sư” của hệ thống địa đạo Vịnh Mốc. Lúc bấy giờ, được cấp trên giao nhiệm vụ bảo đảm an toàn cho đồng bào và chiến sĩ ở khu vực Vịnh Mốc, cụ Vi đã tự phác họa sơ đồ đường hầm theo hướng đông-tây. Lộ trình của địa đạo cũng được thiết kế tỉ mỉ từ đường giao thông hào phía trên, đến hầm lán trại, hầm chữ A, cuối cùng mới đến địa đạo, theo phương châm tránh và phòng. Do vậy, Mỹ có phát hiện địa đạo cũng rất khó vào được khu vực trung tâm ẩn sâu phía dưới.

“Ông luôn tâm niệm, với tình hình lầm than của Vĩnh Linh lúc đó, cần nghĩ ra một kế sách để vừa đánh địch, vừa giữ làng. Bên cạnh đó vẫn phải tìm hướng để đưa hàng hóa ra đảo Cồn Cỏ”, anh An nhớ lại.

Chủ trương được đưa ra và được Chi bộ chấp thuận. Đúng 7 giờ ngày 25/7/1965, chi ủy viên Chi bộ thôn Vịnh Mốc Ngô Trạn đã bổ nhát cuốc đầu tiên vào lòng đất, mở đầu cho công cuộc đào địa đạo. Địa điểm được lựa chọn là quả đồi phía nam làng, sát mép biển, cách Cửa Tùng khoảng 7km về phía bắc, cách Cồn Cỏ 30km về phía tây.

Đúng 7 giờ ngày 25/7/1965, chi ủy viên Chi bộ thôn Vịnh Mốc Ngô Trạn đã bổ nhát cuốc đầu tiên vào lòng đất, mở đầu cho công cuộc đào địa đạo.

Chi bộ phân công đồng chí Ngô Trạn, Chi ủy viên tiến hành chỉ huy, chỉ đạo. 4 đồng chí đoàn viên khác gồm Hồ Văn Triêm, Nguyễn Hứa, Lê Hồng Trí và Hồ Xuyên chịu trách nhiệm đào thử nghiệm. Cùng lúc, “mũi” của Đồn 140 do đồn trưởng Lê Xuân Vi chỉ huy cũng bắt tay vào nhiệm vụ.

“Chúng tôi bắt đầu làm trong sự mong chờ của cả thôn, làng. Sau 2 ngày, kết quả rất khả quan. Chúng tôi đã đào sâu xuống dưới chừng 3,8m; lòng rãnh rộng 1,2m và cao tới 1,7m”, ông Hồ Triêm kể.

Địa đạo Vịnh Mốc: Nơi sự sống nảy mầm giữa bom đạn chiến tranh

Trong hành trình ngược dòng lịch sử về miền đất lửa Quảng Trị, địa đạo Vịnh Mốc hiện lên như một biểu tượng bất khuất của tinh thần quật cường, sự sáng tạo của người dân nơi đây trong những năm tháng khốc liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Bên trong địa đạo Vịnh Mốc, nơi sự sống nảy mầm giữa bom đạn chiến tranh

Giữa mưa bom bão đạn, nơi lòng đất sâu hun hút ấy, sự sống không chỉ được duy trì mà còn nảy mầm, vươn lên mạnh mẽ, góp phần làm nên một trang vàng son trong lịch sử đấu tranh của dân tộc.

Pháo đài dưới lòng đất giữa vùng giới tuyến

Địa đạo Vịnh Mốc tọa lạc tại thôn Vịnh Mốc, xã Kim Thạch, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, nằm sát biển và ở phía Bắc vĩ tuyến 17 – nơi từng là giới tuyến quân sự tạm thời chia cắt hai miền Nam - Bắc sau Hiệp định Genève năm 1954.

Đây cũng là vùng "tọa độ lửa" ác liệt, khi trong khoảng thời gian từ năm 1965 đến năm 1972, mảnh đất Vĩnh Linh với diện tích chưa đầy 820 km² đã phải hứng chịu hơn 700.000 tấn bom đạn. Trung bình, mỗi người dân nơi đây phải gánh chịu tới 7,8 tấn bom cùng với 10 quả đạn pháo.

Dù những công trình, làng mạc bị san phẳng trong biển lửa chiến tranh, ý chí tồn tại và tinh thần quật khởi của quân dân Vĩnh Linh vẫn không hề lay chuyển.

Địa đạo Vịnh Mốc có 13 cửa ra vào trong đó có 7 cửa thông ra biển và 6 cửa đi lên đồi

Trong hoàn cảnh sinh tử ấy, quân và dân Vịnh Mốc đã làm nên một kỳ tích: đào nên hệ thống địa đạo dài gần 2 km, chia thành ba tầng, ăn sâu vào lòng đất từ 12 đến 23 mét, đủ khả năng chống chịu cả bom phá và bom xuyên phá của không quân Mỹ.

Theo PGS.TS Sử học Hoàng Chí Hiếu – Phó Trưởng khoa Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Huế: "Địa đạo Vịnh Mốc không đơn thuần là nơi trú ẩn, mà được xây dựng như một 'làng ngầm' hoàn chỉnh với 13 cửa ra vào (6 cửa lên đồi, 7 cửa hướng biển), cùng đầy đủ các công trình phụ trợ như giếng nước, nhà hộ sinh, bệnh xá, kho lương thực, nhà ở và hội trường… như một ngôi làng thực thụ nhưng được nằm sâu dưới lòng đất".

Địa đạo còn là nơi bộ đội và nhân dân tổ chức hàng trăm chuyến thuyền nan cảm tử, vượt biển hơn 30 km để tiếp vận, cấp cứu thương binh và tiếp tế cho đảo tiền tiêu Cồn Cỏ.

Giữa những năm tháng khốc liệt ấy, khi bom đạn dội xuống ngày đêm, sự sống vẫn sinh sôi trong lòng đất với 17 đứa trẻ chào đời dưới hầm địa đạo, như những chồi non kiên cường vươn mình giữa bão tố.

Các bức tượng tái hiện lại cuộc sống thường ngày bên trong địa đạo trong những năm tháng chiến tranh

Kỳ tích từ đôi tay trần và niềm tin vào ngày mai

Công trình vĩ đại này không được xây dựng bằng máy móc hiện đại hay đội ngũ kỹ sư chuyên nghiệp. Tất cả đều nhờ bàn tay, khối óc và lòng quả cảm của quân và dân địa phương.

Với những công cụ thô sơ như cuốc, xẻng, xà beng và ánh sáng của những chiếc đèn dầu leo lét, hàng trăm con người đã miệt mài khoét từng mét đất, gạt từng phiến đá suốt gần hai năm trời, trong điều kiện thiếu thốn, hiểm nguy luôn rình rập.

17 đứa trẻ được chào đời ở nơi đây

Mỗi mét đất được dời đi là một thử thách với sự sống, nhưng trong gian khó, lòng người càng thêm gắn bó, ý chí càng thêm vững vàng. Người mẹ gùi đất, người cha canh gác, trẻ nhỏ tiếp tế gạo muối... Tất cả đã hợp sức dựng nên "pháo đài lòng đất" vững chãi, bảo vệ miền Bắc và tiếp sức cho chiến trường miền Nam.

Hơn cả một công trình quân sự, địa đạo Vịnh Mốc là biểu tượng cho tinh thần bền bỉ, sáng tạo và lòng yêu nước nồng nàn của con người Việt Nam trước thử thách của chiến tranh.

Ngày nay, địa đạo Vịnh Mốc đã được xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt. Đây là điểm đến không thể thiếu trong hành trình về nguồn của du khách khi đến Quảng Trị.

Bước chân vào lòng địa đạo, du khách như lạc về những năm tháng máu lửa. Không gian địa đạo vẫn giữ nguyên hơi thở của quá khứ: những hốc tường đen sạm vì khói đèn, những lối đi hun hút ẩm thấp, những căn hầm sinh hoạt chật chội… Tất cả như thì thầm kể lại câu chuyện về một thời máu và hoa.

Một số hình ảnh tư liệu nói về những ngày tháng người dân, chiến sĩ với những hoạt động dưới địa đạo

Mỗi bước chân vang vọng trong lòng đất như tiếng vọng của lịch sử, nhắc nhở thế hệ hôm nay về giá trị của hòa bình, của cuộc sống tự do hôm nay được đánh đổi bằng máu và nước mắt của bao thế hệ đi trước.

Không chỉ là một di tích lịch sử, địa đạo Vịnh Mốc còn là một trường học sinh động về lòng yêu nước và truyền thống cách mạng. Các chương trình tham quan kết hợp trải nghiệm thực tế được tổ chức thường xuyên đã góp phần đưa những bài học lịch sử trở nên sống động, dễ tiếp cận với thế hệ trẻ.

Địa đạo Vịnh Mốc còn là một trường học sinh động về lòng yêu nước và truyền thống cách mạng cho các thế hệ trẻ hiện tại và mai sau

Bảo tồn để phát triển bền vững

Trước sự biến đổi của thời gian và áp lực từ phát triển du lịch, bài toán đặt ra là làm thế nào vừa bảo tồn nguyên trạng giá trị lịch sử, vừa khai thác hiệu quả để phục vụ phát triển bền vững.

Những năm qua, tỉnh Quảng Trị đã có nhiều chính sách trùng tu, tôn tạo hệ thống địa đạo Vịnh Mốc, xây dựng thêm các hạng mục phụ trợ như nhà trưng bày, hệ thống chiếu sáng, đội ngũ thuyết minh viên chuyên nghiệp, cơ sở hạ tầng giao thông kết nối... Qua đó, địa đạo đang trở thành điểm nhấn quan trọng trong hành trình "về nguồn" và du lịch thăm lại chiến trường xưa.

Đồng thời, địa đạo Vịnh Mốc cũng đang được kết nối với các điểm di tích khác như cầu Hiền Lương - sông Bến Hải, Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn, Thành cổ Quảng Trị… theo hướng phát triển du lịch văn hóa - tâm linh, góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch và thu hút khách quốc tế.

Địa đạo Vịnh Mốc không chỉ là dấu tích của một thời bom đạn, mà còn là biểu tượng bất tử của sức mạnh nhân dân, của khát vọng hòa bình và thống nhất. Từ sâu trong lòng đất, sự sống đã nảy mầm, vươn lên mãnh liệt như chính ý chí Việt Nam – ý chí không thế lực nào có thể khuất phục.

Giữa không gian yên bình hôm nay, địa đạo Vịnh Mốc vẫn thì thầm kể chuyện xưa, nhắc nhở mỗi chúng ta không quên quá khứ để biết trân trọng hiện tại và chung tay xây dựng tương lai tươi sáng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Vịnh Mốc: Huyền thoại của lũy thép, lũy hoa | Câu chuyện thời hoa lửa