Vinh Quang - tập trung chi viện sức người, sức của cho miền Nam, đấu tranh thống nhất đất nước (1973-1975)
Vinh Quang - tập trung chi viện sức người, sức của cho miền Nam, đấu tranh thống nhất đất nước (1973-1975)

Thực hiện sự chỉ đạo của cấp trên năm 1973 Đảng bộ Vinh Quang tổ chức đại hội lần thứ XVII, nhiệm kỳ 1973 1975. Đại hội đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ ở nhiệm kỳ trước và đề ra phương hướng nhiệm vụ trong những năm 1973-1975, tập trung phát triển sản xuất nông nghiệp, chú trọng chăn nuôi. Đẩy mạnh công tác văn hóa giáo dục y tế, làm tốt chính sách hậu phương quân đội, giữ vững quốc phòng an ninh chi viện tối đa sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam. Chú trọng công tác xây dựng tổ chức cơ sở Đảng, chính quyền, ban công tác mặt trận và các đoàn thể quần chúng.
Đại hội bầu ban chấp hành đảng bộ xã gồm 9 đồng chí; tại Hội nghị lần thứ nhất ban chấp hành bầu ban thường vụ gồm 3 đồng chí, trong đó đồng chí Phạm Văn Danh được bầu giữ chức Bí thư Đảng ủy, đồng chí Nguyễn Văn Hiến Phó Bí thư, đồng chí Trần Văn Thụy ủy viên Ban Thường vụ. Tháng 7 năm 1974 đồng chí Trần Văn Thụy giữ chức Phó Bí thư thay đồng chí Nguyễn Văn Hiến chuyển công tác khác, đồng chí Mai Ngọc Cưu được bầu bổ sung vào Ban Thường vụ. Với tinh thần tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược; thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “không có gì quý hơn độc lập tự do” nhân dân Vinh Quang phấn đấu mỗi người làm việc bằng hai chi viện cho miền Nam. Sản xuất được tổ chức lại một bước, năm 1973 Đảng Bộ tập trung lãnh đạo quyết liệt vận động và khắc phục tư tưởng cục bộ địa phương trong việc tiến hành sáp nhập hai hợp tác xã Thái Bình và Kim Thái thành hợp tác xã nông nghiệp quy mô toàn xã, do đồng chí Mai Ngọc cưu làm chủ nhiệm. Ruộng đất Vinh Quang được quy hoạch lại, các đội sản xuất cũng được tổ chức phù hợp với các khu vực cư trú và điều kiện canh tác của các khu đồng trong toàn xã. Các đội sản xuất cơ bản và đội chuyên đều được củng cố lại, hợp tác xã đầu tư tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất như hệ thống nhà kho, sân phơi, máy bơm nước, bình bơm thuốc trừ sâu, xe cải tiến… Từ năm 1973 đến 1975 xã cơ bản hoàn chỉnh hệ thống thủy nông tháng 3 năm 1974 đội thủy lợi 202 và quân dân xã cùng các xã trong toàn huyện chi viện cho tỉnh Ninh Bình đắp đê sông Đáy.
Thực hiện thâm canh, tăng năng suất cây trồng sẽ tích cực đưa các giống lúa mới vào sản xuất như 314, 424, nông nghiệp 5, nông nghiệp 8, Mộc Tuyền … các giống lúa được lựa chọn theo đúng quy trình kỹ thuật các nguồn phân hữu cơ và vô cơ được tăng cường khai thác sử dụng bón cho lúa và rau màu. Phong trào “cắm thẻ nhận ruộng” của Đảng viên đạt hiệu quả cao; nhiều thửa ruộng đất cằn cỗi nhờ đó được cải tạo, giải quyết được nạn chua mặn tăng độ phì nhiêu. Nhờ những biện pháp tích cực đó năng suất lúa của Vinh Quang có bước tăng đáng kể, năm 1973 năng suất lúa của Vinh Quang Đạt gần 5,7 tấn trên ha năm 1975 Đạt 6 tấn trên ha, sản lượng khoai lang, khoai tây và rau màu đều tăng.
Chăn nuôi tiếp tục có chuyển biến, năm 1972 xã Vinh Quang có 1040 con lợn, 580 con trâu; năm 1975 đàn lợn tăng lên 1150 con, đàn trâu năm 92 con đàn gia cầm tăng từ 5% đến 8%. So với năm 1970 diện tích nuôi thả cá ở cả hai khu vực tập thể và gia đình đạt 54 ha mặt nước; hợp tác xã đánh cá Đông ngư nâng sản lượng đánh bắt từ 300 lên 400 tấn tôm, cá mỗi năm. Với những kết quả trên đời sống nhân dân tiếp tục nâng cao và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu nghĩa vụ lương thực thực phẩm với nhà nước.
Mạng lưới giao thông nông thôn tiếp tục được cải tạo, mở rộng. Các tuyến đường liên xã, liên thôn; các tuyến đường giao thông nội đồng được tu bổ và hoàn chỉnh, chất lượng các mặt đường đảm bảo cho xe bò và xe cải tiến vận chuyển phân bón, lương thực, thực phẩm và các loại hàng hóa khác.
Các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế có điều kiện phát triển. Ngoài tăng cường các hình thức tuyên truyền miệng, khẩu hiệu, pano, áp phích, hệ thống loa truyền thanh được lắp đặt phát đến từng gia đình, giúp nhân dân xã nghe tin tức thời sự, chính sách một cách kịp thời. Xã cũng thành lập một thư viện với 2400 đầu sách các loại, phục vụ việc học tập, giải trí của học sinh và nhân dân. Phong trào thể dục thể thao, rèn luyện sức khỏe như các môn điền kinh, vật, bóng chuyền, đánh cờ, bơi lội phát triển mạnh; thu hút đông đảo nhân dân tham gia.
Về giáo dục phong trào thi đua dạy tốt, học tốt; tiếp tục được đẩy mạnh cơ sở vật chất. Nhà trường được đầu tư, tu sửa, nâng cấp đáp ứng nhu cầu học tập của con em địa phương. Đội ngũ giáo viên không ngừng bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phục vụ tốt công tác giảng dạy; hàng năm tỷ lệ học sinh lên lớp đạt trên 95%.
Trạm y tế thường xuyên phát động phong trào vệ sinh phòng bệnh, góp phần hạn chế các dịch bệnh. Phong trào sinh đẻ có kế hoạch, sau khi được phát động, thực hiện bước đầu hạ được tỷ lệ dân số của Vinh Quang từ 2,3% xuống 2,1%.
Về xây dựng Đảng công tác đấu tranh tự phê bình và phê bình làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng được đẩy mạnh. Tiếp tục thực hiện nghị quyết 195 và chỉ thị 192; Đảng bộ xã tổ chức học tập cho toàn thể cán bộ, đảng viên nâng cao nhận thức chính trị. Bên cạnh đó tiến hành điều lệ kiểm tra, góp phần làm trong sạch đội ngũ Đảng viên: 5/5 chi bộ Đảng danh hiệu “4 tốt” Đảng bộ trong 3 năm liên tiếp từ 1973 đến 1975 đều được công nhận là đảng bộ “4 tốt”.
Về công tác phát triển Đảng, Đảng bộ chú trọng bồi dưỡng và kết nạp những quần chúng ưu tú vào tổ chức Đảng, nâng cao niềm tin của nhân dân và sự lãnh đạo của Đảng. Từ năm 1973 đến 1975 đã có 72 quần chúng ưu tú được kết nạp vào Đảng.
Về chính quyền, trong giai đoạn 1973 – 1975; Đảng ủy lãnh đạo tổ chức thành công 2 cuộc bầu cử hội đồng nhân dân năm 1973 và năm 1975. Các cuộc bầu cử diễn ra nghiêm túc, bầu đủ số lượng thành phần đại biểu.
Ban công tắc mặt trận xã tăng cường động viên các tầng lớp nhân dân tích cực sản xuất, chiến đấu chống giặc Mỹ xâm lược, bảo vệ quê hương và chi viện cho tiền tuyến đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đoàn viên, thanh niên tiếp tục thực hiện phong trào “Ba sẵn sàng” và đạt nhiều thành tích quan trọng; luôn là lực lượng xung kích đi đầu trong phong trào lao động, sản xuất. Phát huy truyền thống lớp lớp thanh niên Vinh Quang xung phong tình nguyện lên đường vào miền Nam chiến đấu, tiếp tục đẩy mạnh phong trào “ba đảm đang”; hội phụ nữ xã đạt nhiều thành tích xuất sắc, trên mặt trận lao động, sản xuất, chiến đấu và chính sách hậu phương quân đội.
Công tác quốc phòng an ninh ngày càng được tăng cường, các chiến sĩ dân quân được tham gia đầy đủ các buổi học tập chính trị, huấn luyện quân sự. Ngoài luyện tập, sẵn sàng chiến đấu, lực lượng dân quân tham gia vào quá trình lao động, sản xuất góp phần nâng cao đời sống nhân dân. Với khẩu hiệu “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Công tác chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến miền Nam được tăng cường, bảo đảm số lượng và chất lượng đúng thời gian quy định.
Lực lượng công an xã phối hợp chặt chẽ với dân quân, tăng cường công tác tuần tra, phòng chống gián điệp. Kịp thời phát hiện và xử lý những vụ việc xảy ra, giữ gìn an ninh trật tự trên địa bàn.



