Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Vĩnh Tế – Lời thề dưới bùn lầy

Đoạn trích tái hiện cuộc hành quân "ngàn cân treo sợi tóc" vượt kênh Vĩnh Tế vào đầu năm 1970 – một cửa ngõ tử thần với sự phong tỏa dày đặc của phi pháo và tàu tuần tiễu Mỹ. Giữa cái khắc nghiệt của sình lầy, đỉa đói và bầy muỗi vây hãm, tinh thần đặc công hiện lên đầy bản lĩnh qua sự nhẫn nại vùi mình trong bùn đỏ suốt ngày dài để giữ bí mật tuyệt đối. Đan xen vào đó là câu chuyện về cậu thiếu niên 17 tuổi Nguyễn Hữu Dũng với khát khao ra trận cháy bỏng, biểu tượng cho sức sống và sự tiếp nối

Lai Châu25/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Hướng điểm tiến công đã rõ. Nhung làm thế nào để hoàn thành được nhiệm vụ trong khi chúng tôi đang còn cách xa mục tiêu cỡ lối trên dưới 200 cây số, mà thời gian dành cho việc chuẩn bị không còn nhiều nữa. Lúc này đã là cuối tháng 1 năm 1970.

Từ căn cứ của Bộ tư lệnh Miền ở Đông Nam Bộ nối với căn cứ Đồng Tháp Mười thấu tận miệt rừng u Minh, phải đi theo ba hướng: Hướng thứ nhất, men theo dọc biên qua Bảy Núi (An Giang) xuống Hà Tiên quẹo trái sang Rạch Giá rồi vào u Minh; hướng thứ hai từ Mỹ Tho qua Bến Tre, Trà Vinh rồi xuống Cà Mau; hướng thứ ba, theo đường thủy sông Tiền và sông Hậu.

Với đội hình gần hai sư đoàn, không có hướng nào khác là phải đi theo hướng thứ nhất - dựa vào đường hành lang của Trung ương cục, tuy địch có theo dõi nhưng vẫn nhanh và an toàn. Một ngày sau khi họp bàn biện pháp tổ chức hành quân với anh Ba Trân, chỉ huy chung, chúng tôi cho đội hình men theo dọc biên chọc thẳng xuống khu vực Bay Xăm Ba trên đất bạn, nhưng yêu cầu tuyệt đối giữ bí mật đích cuối cùng phải đến, một mặt tung tin nghi binh, đánh lạc hướng theo dõi của địch. Những ngày hành quân như thế này nói chung là thoải mái, có nhiều giờ chuyện trò, nói cười hết cỡ.

Từ Bay Xăm Ba muốn tập kết vào khu vực Bảy Núi (An Giang) phải qua kênh Vĩnh Tế. Đây mới là giai đoạn gay cấn cho đoàn quân luồn sâu.

Vĩnh Tế - như bạn đọc đã biết, đó là con kênh nhân tạo dài hơn 100 cây số, rộng 50 mét, sâu 9 mét, được xem như đường biên phân cách Việt Nam và Campuchia. Kênh Vĩnh Tế là một thắng cảnh nhân tạo, chảy hiền hòa mang lượng nước phù sa bồi tưới cho ruộng vườn và cây trái của nhân dân hai nước quanh năm tốt tươi, đâm chồi. Nó hiển hòa ngay từ lúc khởi nguyên đào nó. Nhưng Pháp trở lại xâm lược Việt Nam lần thứ hai rồi tiếp Mỹ đã biến kênh Vĩnh Tế thành tuyến phòng thủ dữ dằn với hệ thống đồn bót tháp canh xen lẫn vật cản ngăn chặn sự xâm nhập từ phía bên kia.

Hai bờ kênh, nhất là bờ thuộc địa phận Việt Nam, đoạn mà chúng tôi bắt buộc phải qua lại là sình lầy, cỏ lác, gây trở ngại cho vận động và chính thương vong khi vượt kênh cũng từ đặc điểm này. Vượt đã khó nhưng vượt sang trụ lại tại đó chờ đêm tối đi tiếp càng khó hơn. Phải chống chọi đủ mọi thứ. Muỗi, đỉa nhiều và to con hơn con muỗi và đỉa mà ta thường thấy. Cũng là đối tượng của mình nhưng không đáng gờm, chỉ bận tâm chút xíu lúc ban đầu mới tới, sau quen dần, mất ít máu là cùng. Trụ lại dưới bom đạn địch, trong sự rình ngó của kẻ thù mới là điều phải bận tâm. Cả khu sình lầy này được địch khảo sát tỉ mỉ, đâu là đường ta có thể qua, đâu là gờ đất, là lùm cỏ mà ta có thể trụ lại, trú ẩn khi trời sáng. Tất cả đều được đo tính cho pháo bầy, cho bom tọa độ, cho việc tuần tiễu thường xuyên từ sáng tinh mơ cho dến tối sẩm của máy bay lên thẳng vũ trang; chúng bay ngang, bay dọc, bay cao nhìn xuống, bay thấp rẽ cỏ theo kiểu ‘Vạch lá tìm sâu” để xăm lùng, phát hiện “Việt cộng” chuẩn bị vượt kênh, hay từ bờ bắc mới sang để chờ về khu Bảy Núi. Tiếng ầm ì nghe nhức óc ấy không bao giờ ngớt, có lúc cao điểm nó liên hồi 24/24.

Đêm về cũng không an toàn, vì pháo bắn cầm canh, vì pháo sáng bắn rọi, nhìn thấy cả chuột chạy, đỉa lội trên đồng.

Thật gần, thật ngon, chỉ đạn súng trường với trình độ xạ kích vừa phải cũng dễ dàng hạ tại chỗ một trực thăng bay thấp. Đúng là dễ ợt! Nhưng như thế là tự mình bộc lộ lực lượng, chỉ thấy trước mắt mà quên nhiệm vụ chính của chuyến luồn sâu. Khi đã lộ thì địch nhanh chóng khép chặt vòng vây, cất vó ta tức thì. Ở vùng tráng địa này để địch dồn vào tình thế ấy thì khó bề xoay xở, chỉ còn cách đối mặt với kẻ thù, kiên quyết đánh trả chúng mà thoát vây. Nhưng như vậy thì việc lớn lỡ dở! Nghĩ như thế nên chúng tôi cắn răng chịu đựng, giấu mình thật kín nơi sình lầy, cỏ lác, mặc cho muỗi, đỉa hút máu. Phải ráng chịu. Nếu chẳng may có ai hy sinh hay bị thương cũng âm thầm mà chôn cất, mà cứu chữa, nén đau thương lại, bảo đảm cho đội hình chiến đấu sáp vô tới đích an toàn.

Nhưng thật là khó! Đi lẻ dễ xóa dấu vết, đi đông như thế này thì giấu, xóa sao xuể? cỏ sẽ đổ gãy, sình lầy hằn rõ bởi nhiều bàn chân giẫm đạp, máy bay địch dễ dàng phát hiện ra, cứ thế lần theo vết cỏ hằn, cỏ đổ gãy ấy mà tìm đến tận cùng. Nếu chưa thấy thì máy bay hạ thấp độ cao, thẳng đứng như diều hâu rình mồi, cánh quạt quay nhanh, bụi cỏ lác nào cũng phải gãy, phải đổ, phải tẻ tách thân cây phoi trơ bụi gốc là thấy liền có ai ẩn trứ. Thế là lại có thương vong, mất mát và hy sinh.

Mặc dầu chúng tôi chọn điểm vượt cách xa khu trọng điểm phòng thủ tới 20 cây số về phía tây - nam nhưng khi thực hành vượt kênh vẫn không tránh khỏi vất vả gian nan, phải mất cả tháng trởi mới qua hết bờ nam kênh với một giá đắt phải trả.

Tôi và bộ phận chỉ huy vượt kênh vào đêm thứ nhất của đợt đầu nhưng không thành. Vì quãng vượt có hai lô cốt đen ngòm cách nhau chừng 200 mét, các lỗ châu mai như hai mắt cú vọ tát cả đều hướng ra nơi kênh. Chốc chốc lại đại liên từ các hốc lỗ châu mai đó phụt lửa, nhả đạn đan chéo nhau lướt là là trên mặt kênh. Thỉnh thoảng ca nô địch đi tuần liên tục, rọi đèn vào bờ, buộc chúng tôi phải quay về vị trí tập kết. Chưa vượt được kênh thì lại nhận được tin khẩn, tôi đau nhói ở nơi con tim - hai phần ba quân số tiểu đoàn 3 bị thương vong trong đợt vượt kênh này; chính trị viên tiểu đoàn 5 bị trọng thương, lạc đường nên sa vào tay địch, bị chúng đánh đập dã man. Nỗi buồn thương dâng đầy trong tôi nhưng cứ phải nén chịu, kiềm chế, bởi mềm yếu lúc này là không có lợi. Tôi tự nhủ mình như vậy nhưng đầu óc không lúc nào rứt ra được những suy nghĩ mông lung. Nghĩ về những đồng đội mình đã nằm xuống nơi đây, nghĩ về ai đó đã đặt thêm lên cho con kênh này là “Kênh Vĩnh Biệt”. Lại càng nghĩ đến sự gắn quyện thần kỳ về sức mạnh của chiến tranh nhân dân. Nhờ có dân, chúng tôi dưa được hàng trung đoàn luồn sâu xuống huyện Cần Giuộc để hình thành mũi tiến công lợi hại đánh vào Sài Gòn từ hướng tây-nam; không có dân sao chúng tôi đánh sập được cầu Bến Lức, trụ lại bên này cầu chữ Y cả tháng trời trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968; nhân dân cũng đã giúp chủng tôi đánh thắng Mỹ ở Trảng Lớn, Đồng Dù, ở Tểch-nich và trên sông Lòng Tàu v.v... Giờ đây địch có thêm viện binh đang điên cuồng phản kích, đánh phá các trận địa của chiến tranh nhân dân ở cơ sở hạ tầng, thì nhân dân lại rất cần có những cú “đấm” của bộ đội chủ lực để hỗ trợ mình đấu tranh hồi phục lại lực lượng, lập lại thế trận liên hoàn đánh địch ở các địa phương. Do ý thức được cái mối quan hệ gắn quyện sinh tử ấy mà trung đoàn 320 (hầu hết cán bộ, chiến sĩ quê ở ngoài Bắc) đã vui vẻ từ Tây Ninh lật cánh xuống Long An từ tháng 12 năm 1968 đế cùng bà con cô bác, cùng lực lượng vũ trang địa phương tổ chức lại lực lượng, sắp xếp lại thế trận chiến tranh nhân dân địa phương chống trả quyết liệt với bọn xâm lược Mỹ và bè lũ tay sai. Giờ đây đến lượt chúng tôi cũng có nghĩa vụ đáp lại yêu cầu của cuộc chiến đấu, dù phải hy sinh nữa cũng vui vẻ chấp nhận, bởi đây là lý trí, là tình cảm, là trách nhiệm và lương tâm. Điều tâm đắc đã trở thành một tiềm thức bền vững hôm nay bắt nguồn từ kỷ niệm sâu sắc về những ngày lượt kênh Vĩnh Tê năm xưa. Sau này khi được học tập đường lối quân sự của Đảng, tôi đã tiếp thu nhanh kiến thức về chiến tranh nhân dân địa phương và chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực đều giữ vị trí chiến lược quan trọng chiến tranh... Những ngày luồn sâu bám trụ ở khu vực Bảy Núi (An Giang) để hỗ trợ đồng bào mở vùng mở mảng đã là những sự kiện khó quên trong tôi mỗi khi tiếp nhận những vấn đề về khoa học và nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Mặt trời lặn, những hàng cây thốt nốt mờ dần trong hoàng hôn đến nhanh, chúng tôi lại tiếp tục công việc vượt kênh. Phần lo cho đơn vị, phần chuẩn bị cho bản thân gắng làm sao không để cho cái mất mát đã qua tái diễn trong đêm nay. Đầu óc lại căng lên, tâm trạng lại xáo trộn, việc lại nhiều ra. Nhưng thật là một hạnh phúc lớn, một nguồn động viên không nhỏ đối với tôi trong những giờ phút căng thẳng này, ấy là có Dũng - Nguyễn Hữu Dũng ở bên. Dũng là liên lạc của bộ phận chỉ huy, nhưng cũng là một “chính trị viên” của tôi, ít ra là những ngày tháng vượt kênh. Mới 17 tuổi đời mà đã có cái già dặn trong suy nghĩ, năng nổ, tháo vát trong hành động của quê hương Đồng khởi. Thoát ly gia đình lên Miền, Dũng công tác ở một cơ quan dân sự, nhưng Dũng lại thích được trực tiếp chiến đấu, bằng một quyết định của tự mình: Bỏ cơ quan tìm đến đặc công xin được giao nhiệm vụ.

Cơ quan Dũng báo sang là Dũng vô kỷ luật, tự ý bỏ việc.

Về hiện tượng hàng ngày Dũng không chứng tỏ là mình xấu, trái lại công tác tích cực, sống có kỷ luật. Thấy có cái gì khó hiểu trong con người Dũng, tôi gọi lên thân mật trao đổi, tìm hiểu thực hư. Khi gợi ý về việc làm sai trái của Dũng thì Dũng lý sự một cách rất lễ độ:

- Dạ thưa chú, đào ngũ về phía sau mới là xấu chứ, còn cháu xin ra phía trước, mong được các chú cho đi chiến đấu thì có gì xấu.

Cái lý của Dũng chẳng cùn chút nào. Ở chiến trường nóng bỏng như thế này mà có được lòng quả cảm và những suy nghĩ như Dũng là đáng khích lệ chứ. Nghĩ như thế, một mặt tôi quyết định nhận Dũng vào làm liên lạc, một mặt viết thư sang cơ quan nơi Dũng công tác, trình bày những điều chúng tôi hiểu biết về Dũng, mong cơ quan thông cảm cho thiếu sót của Dũng và vui vẻ để Dũng được gia nhập vào đội ngũ đặc công, đang chuẩn bị lên đường đi chiến đấu.

Sau khi tìm hiểu được biết ba của Dũng là trung đoàn trưởng bị cầm tù ngoài Côn Đảo, má Dũng là quân y sĩ (chị tập kết ngoài Bắc học tiếp lên bác sĩ, đã trở lại chiến trường từ năm 1966). Biết thêm Dũng xuất thân từ một gia đình cách mạng, tôi càng muốn Dũng làm liên lạc cho bộ phận chỉ huy. Khi được ướm hỏi, Dũng không phải suy nghĩ gì lâu mà trả lời ngay: Bất cứ việc gì chú giao cháu cũng nhận liền - rồi đắn đo như ra điều kiện - nếu có chiến đấu chú cho cháu đi theo nghen.

Dũng còn trẻ nhưng rất đảm đang, chiến đấu hăng mà nội trợ cũng giỏi. Trong ba lô của Dũng có đủ mọi gia vị. ít phút dừng nghỉ trong hành quân là Dũng thoắt cái đã vào rừng kiếm rau rất thạo và nhanh, chẳng khác nào người đã sinh sống ở rừng từ lâu.

Trong cuộc hành quân vượt kênh Vĩnh Tế này, Dũng càng tỏ ra hăng hái và tháo vát vì nguyện vọng đi chiến đấu được thực hiện. Mỗi lần vượt kênh đều có tin thương vong báo về sở chỉ huy nhưng Dũng không hề nao núng mà trái lại, lúc nào cũng bồn chồn đợi mong chóng đến lượt mình. Đến khi được lệnh vượt kênh thì Dũng phấn khởi hẳn lên, như người chờ tàu đợi xe quá lâu, nay đến lượt thì mừng quýnh lên, tất bật chuẩn bị kẻo chậm là lỡ chuyến. Sáng nay Dũng dậy thật sớm hết nấu nước cho vào bi đông, lại lo sắp xếp thứ tự hành lý để đóng gói bọc nilông thành phao bơi; Dũng còn tranh thủ quét nhà quét sân, giúp chủ nhà nấu cả cơm sáng. Ngôn ngữ tuy bất đồng nhưng cử chỉ chan hòa nhã nhặn, việc làm chu đáo của Dũng đã là một thứ ngôn ngữ truyền cảm mạnh mẽ đến nhân dân nơi nước bạn Cam-pu- chia. Lúc chúng tôi tạm biệt phum sóc đi ra hướng bờ kênh để đợi giờ vượt sang đất Việt Nam, đồng bào kéo đến rất đông để tiễn đưa, vừa lưu luyến, kèm theo cả lo lắng. Phải trở lại, điều ấy với chúng tôi thật buồn, nhưng với đồng bào thì lại vui, lại được trông thấy mặt nhau, được sống đoàn tụ bên nhau.

Dũng chuẩn bị chu đáo cho mình và càng chu đáo cho người chỉ huy mà Dũng có trách nhiệm phục vụ. Những giờ phút như thế này, có Dũng ở bên tôi thấy mình thanh thản thêm lên, chỉ còn lo một việc điều hành sao cho suôn sẻ, lo tính vượt kênh sao cho an toàn... Trăng non đã lặn, trời tối sẫm, bộ phận chỉ huy nhẹ chúng tôi xuất phát lẹ làng ra phía bờ kênh. Không gian yên ắng, bỗng Dũng như chậm lại, chờ tôi lên ngang, đột nhiên hỏi:

- Chú Tư bơi ngon không?

- Chú bơi rất ngon! - Tôi trả lời - Hồi nhỏ lúc học ở trường làng, chú đã tham gia thi bơi, về nhất được cấp bằng khen mà.

- Thiệt hả chú?

- Thiệt chứ, nói dóc làm gì.

Dũng thở phào như đã giải đáp được nỗi băn khoăn của mình. Không nói ra nhưng qua thái độ, tôi đoán biết Dang đã rất có trách nhiệm đối với chỉ huy. Dũng đã chuẩn bị sẵn sàng nếu như quả thật tôi không biết bơi thì Dũng sẽ xuất ngay ra kế hoạch khắc phục.

Thế là kế hoạch vượt sông đêm nay - đêm thứ hai cũng không thực hiện được, vì kẻ địch sau khi bắt được đồng chí chính trị viên tiểu đoàn 5, phát hiện có “Việt cộng” vượt kênh nên đã tích cực đề phòng. Chúng tôi ngồi chờ suốt từ 10 giờ đêm cho đến gần 2 giờ sáng mà mặt kênh không lúc nào ngói tiếng súng phong tỏa ở bờ kênh bên kia bắn sang. Ca nô tuần tiễu đêm nay cũng vậy. Cứ cái lên cái xuống, đèn sáng quét loang loáng trên mặt kênh, nước lúc nào cũng lao xao xô bờ nghe rất rõ.

Đêm thứ ba, địch vẫn không tỏ ra giảm cường độ phong tỏa. Đã ba giờ sáng mà trên mặt kênh không có chỗ nào hở để vượt qua. Tôi quyết định - có phần hơi táo bạo - chờ đến bốn giờ sáng, đến giờ này địch chủ quan, hết đề phòng, đó là thời cơ vượt qua. Như vậy thời gian vận động qua nơi tráng địa khi sang tới bờ bên kia chỉ còn trên dưới một tiếng đồng hồ. Sẽ vất vả và nguy hiểm đấy, nhưng dù sao cùng còn hơn là quay trở lại, biết đêm thứ tư có qua nổi hay không, và như thế thì mọi kế hoạch tiếp sau phải đình hoãn, nhiệm vụ Bộ tư lệnh Miền giao không hoàn thành.

Sự kiên nhẫn chờ đợi rõ ràng là không phí sức. Đúng như phán đoán của chúng tôi, vào lúc bốn giờ sáng, súng bắn phong tỏa của địch thưa dần và tắt hẳn. Thời cơ vượt đã đến! Chúng tôi lội xuống bờ kênh và bơi thật nhanh, càng nhanh càng tốt. Dù sao thì cũng không được chủ quan, chuyện sông nước ai mà lường định hết được. May, thật may, khi chúng tôi bơi sang tới bờ bên kia, chân vừa đạp tới đất thi hai chiếc ca nô từ thượng nguồn ào xuống, rất nhanh. Thật hú vía! Nếu lúc ấy chúng tôi còn loay hoay ở giữa kênh, chắc chắn sẽ roi vào một trong hai trường họp cực kỳ nguy hiểm: Hoặc bị địch phát hiện, chúng quây vòng bắt sống; hoặc bị chân vịt của ca nô cuốn vào và chém đứt thành từng mảnh. Tất cả đều xử trí đúng như kế hoạch đã lường định về tình huống này: Nằm ngửa, tiếp tục quan sát địch rồi tùy diễn biến cụ thể mà có những xử trí thích họp. Ca nô địch vẫn xuôi dòng nhưng tốc độ chậm lại, đèn pha bật sáng rà quét trên mặt kênh, một lúc sau không thấy gì chúng mới chịu cặp bờ, thả neo gần nơi có lô cốt. Mặt kênh yên tĩnh, nước chảy hiền hòa trở lại, chúng tôi đứng thẳng người quan sát và nghe ngóng động tĩnh, rồi vượt nhanh qua quãng giữa của hai lô cốt địch vào bờ, cách dăm bước tới sình lầy liền. Rất mệt nhưng vẫn phải đi tiếp vì trời sắp sáng. Vừa đi chúng tôi vừa xóa dấu vết, vuốt lại từng cây cỏ cho chúng đứng nguyên tự nhiên. Cách bờ khoảng 500 mét thì chúng tôi đành nằm lại, phần đồng cỏ lác cũng không còn nữa, chỉ có sình lầy rộng phẳng đến mút mắt, tận miệt Rạch Giá, Hà Tiên.

Cái vất vả, cái mệt nhọc của đêm vượt kênh chưa tan thì cái căng thẳng của một ngày nằm dưới các lùm cây, cỏ lác, dưới sinh lầy lại đến. Nằm lại khi trời chưa sáng phải lo chống đỡ với muỗi, đỉa cứ theo hơi người mà xông tới. Nằm lại khi trời sáng rõ lại phải lo đối phó với đủ thứ: Trước hết là nắng chói chang rọi xuống mặt sình lầy có màu đất đen càng hấp thụ nhiệt và tỏa nhiệt ra xung quanh, cái nóng hầm hập kéo đến, con người như đang bị đưa vào lò hấp thật. Muỗi tiến công cả ban ngày, muỗi Cà Mau quanh năm đói ăn, được dịp bâu vào hút máu. Một đồng chí tức cảnh đã làm thơ:

Vượt kênh Vĩnh tế
Muỗi, đỉa như rươi
Ngửi thấy hơi người
Bu vào hút máu
Lúc đầu hơi cáu
Nghĩ lại, thấynguôi:
Giặc Mỹ tàn ác
Gấp năm, gấpmười.
Xá chỉ đỉa muỗi,
Thắng giặc thì thôi!

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn