Võ Chí Công – Người chiến sĩ cộng sản kiên cường, nhà lãnh đạo thực tiễn xuất sắc của Đảng

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đồng chí Võ Chí Công là một trong những nhà lãnh đạo tiêu biểu, người chiến sĩ cộng sản kiên trung, mẫu mực, đã dành trọn cuộc đời mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với 100 năm tuổi đời, 76 năm tuổi Đảng, đồng chí đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng Đảng, Nhà nước và nhân dân ta bằng bản lĩnh cách mạng, trí tuệ thực tiễn, phẩm chất giản dị, khiêm tốn và tinh thần tận tụy vì dân, vì nước.
Đồng chí Võ Chí Công, tên thật là Võ Toàn, sinh ngày 07/8/1912 tại làng Tam Mỹ, tổng Phú Quý, phủ Tam Kỳ, nay là thôn Khương Mỹ, xã Tam Xuân 1, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Sinh ra và lớn lên trên vùng đất xứ Quảng giàu truyền thống yêu nước, trong một gia đình có tinh thần đấu tranh cách mạng, đồng chí sớm được hun đúc lòng yêu nước, ý chí quật cường và tinh thần dân tộc. Ngay từ năm 14 tuổi, Võ Toàn đã cùng cha tham gia phong trào đấu tranh đòi thả cụ Phan Bội Châu, để tang cụ Phan Châu Trinh, đòi dân sinh, dân chủ.
Từ năm 1930 đến năm 1932, đồng chí tham gia các phong trào thanh niên do Đảng tổ chức. Năm 1935, đồng chí gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương, nay là Đảng Cộng sản Việt Nam. Một năm sau, đồng chí được cử làm Bí thư chi bộ ghép Mỹ Sơn, huyện Tam Kỳ. Từ đây, cuộc đời của đồng chí gắn liền với con đường cách mạng đầy gian khổ nhưng vô cùng vẻ vang.
Trong những năm trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng chí Võ Chí Công lăn lộn bám dân, bám đất, bám cơ sở để gây dựng phong trào cách mạng tại Quảng Nam. Sau cao trào vận động dân chủ 1936 - 1939, phong trào cách mạng bị thực dân đàn áp khốc liệt, nhiều tổ chức Đảng và cơ sở quần chúng bị tan vỡ. Trong hoàn cảnh hiểm nguy ấy, đồng chí vẫn kiên trì hoạt động, giữ gìn cơ sở, chắp nối phong trào, khôi phục tổ chức Đảng.
Năm 1939, đồng chí được bổ sung vào Phủ ủy Tam Kỳ và được cử làm Bí thư Phủ ủy. Khi nhiều cán bộ Tỉnh ủy Quảng Nam bị địch bắt, tổ chức gần như không còn hoạt động, đồng chí đã chủ động chắp nối, xây dựng lại các tổ chức Đảng trong tỉnh, lập Ban liên lạc tỉnh để tiến tới thành lập Tỉnh ủy lâm thời Quảng Nam. Tháng 3/1940, Tỉnh ủy lâm thời Quảng Nam được thành lập và đồng chí được cử làm Bí thư.
Trên cương vị lãnh đạo phong trào cách mạng địa phương, đồng chí Võ Chí Công luôn đi sâu, đi sát cơ sở, kịp thời chỉ đạo phong trào ở những địa bàn địch thường xuyên khủng bố, đánh phá ác liệt như Tam Kỳ, Tiên Phước. Sau cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ, khi thực dân Pháp tăng cường đàn áp, đồng chí vừa phải tránh sự truy lùng của địch, vừa tìm cách khôi phục hoạt động của các tổ chức Đảng, liên lạc với Xứ ủy và Trung ương Đảng.
Tháng 10/1941, tại Hội nghị thành lập lại Xứ ủy Trung Kỳ, đồng chí được bầu làm Xứ ủy viên, phụ trách các tỉnh từ Đà Nẵng đến Phú Yên. Năm 1942, đồng chí tiếp tục được giao nhiều trọng trách quan trọng, làm Bí thư Liên Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng, rồi Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam. Đó là giai đoạn vô cùng cam go, nhưng cũng là thời kỳ thể hiện rõ bản lĩnh, năng lực tổ chức và tinh thần dấn thân của đồng chí.
Tháng 10/1943, đồng chí bị địch bắt, giam cầm và tra tấn dã man tại Nhà lao Hội An. Sau đó, đồng chí bị kết án tù chung thân, rồi giảm xuống 25 năm tù và bị đày đi Nhà tù Buôn Ma Thuột. Dù bị tù đày, tra tấn, đồng chí vẫn giữ vững khí tiết của người cộng sản, không khuất phục trước đòn roi và xiềng xích của kẻ thù.
Sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp ngày 09/3/1945, đến tháng 6/1945, đồng chí được thả tự do. Trở về Quảng Nam, đồng chí tiếp tục tham gia Ủy ban Việt Minh tỉnh. Trước thời cơ cách mạng chín muồi, từ ngày 12 đến 13/8/1945, dù chưa nhận được chỉ thị của Trung ương, Tỉnh ủy Quảng Nam đã họp và quyết định tiến hành khởi nghĩa. Đồng chí Võ Chí Công được cử tham gia bộ phận Thường trực của Ủy ban bạo động, trực tiếp vạch kế hoạch giành chính quyền.
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng chí được cử làm Trưởng ty Tư pháp tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, sau đó kiêm Chính trị viên Trung đoàn 93. Từ năm 1946 đến năm 1952, đồng chí lần lượt đảm nhiệm các nhiệm vụ như Phó ban Tổ chức cán bộ và Thanh tra Quân khu 5, Bí thư Ban cán sự Đông Bắc Campuchia, Ủy viên Liên khu ủy 5, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng. Trên mỗi cương vị, đồng chí đều thể hiện tinh thần trách nhiệm, năng lực lãnh đạo và sự gắn bó mật thiết với phong trào cách mạng ở địa phương.
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, theo nguyện vọng được trở về miền Nam công tác, đồng chí được Trung ương phân công trở lại Khu 5 để truyền đạt chủ trương về cách mạng miền Nam, ở lại hoạt động bí mật, lãnh đạo việc tập kết, chuẩn bị lực lượng cách mạng lâu dài ở miền Trung. Đồng chí giữ cương vị Phó Bí thư Khu ủy, sau đó là Quyền Bí thư Khu ủy Khu 5.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng tháng 9/1960, đồng chí được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tháng 1/1961, khi Trung ương Cục miền Nam được thành lập, đồng chí được phân công làm Phó Bí thư Thường trực Trung ương Cục, phụ trách dân vận, mặt trận, kinh tế, tài chính và nhiệm vụ phá ấp chiến lược, chống bình định của địch. Năm 1962, đồng chí được bầu làm Phó Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.
Tháng 1/1964, Bộ Chính trị điều động đồng chí từ chiến trường Nam Bộ trở lại Khu 5 làm Bí thư Khu ủy kiêm Chính ủy Quân khu 5. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ vô cùng gian khổ, đồng chí Võ Chí Công được xem là một trong những linh hồn của phong trào cách mạng Khu 5. Đồng chí luôn có mặt ở những địa bàn trọng yếu, ác liệt nhất, cùng tập thể Khu ủy lãnh đạo quân và dân Khu 5 vượt qua muôn vàn hy sinh, gian khổ, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Đồng chí là một nhà lãnh đạo thực tiễn xuất sắc. Bản lĩnh của đồng chí thể hiện ở sự quyết đoán, năng động, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm trong những thời khắc có ý nghĩa quyết định. Với tư duy sâu sát thực tiễn, đồng chí đã vận dụng sáng tạo đường lối chiến tranh nhân dân, phát huy sức mạnh đoàn kết của nhân dân, lãnh đạo quân và dân Khu 5 vượt qua những giai đoạn khó khăn nhất.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đồng chí Võ Chí Công cùng tập thể lãnh đạo Khu 5 đã góp phần quan trọng vào việc giải phóng Tây Nguyên, Đà Nẵng và các tỉnh duyên hải miền Trung. Những thắng lợi ấy làm thay đổi cục diện chiến trường, tạo đà mạnh mẽ cho Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Sau ngày đất nước thống nhất, đồng chí tiếp tục được Đảng, Nhà nước giao nhiều trọng trách quan trọng. Năm 1975, đồng chí làm Phó ban đại diện Trung ương Đảng và Chính phủ ở miền Nam. Năm 1976, đồng chí được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa VI, giữ chức Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Hải sản. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, giữ chức Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Trưởng ban Cải tạo nông nghiệp miền Nam.
Từ sau đó, đồng chí tiếp tục đảm nhiệm nhiều cương vị lãnh đạo cấp cao: Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Thường trực Ban Bí thư, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Tháng 4/1987, đồng chí được Quốc hội khóa VIII bầu làm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng. Trên cương vị này, đồng chí đã ký lệnh công bố Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, một dấu mốc quan trọng trong đời sống chính trị - pháp lý của đất nước.
Trong công cuộc đổi mới, đồng chí Võ Chí Công luôn trăn trở về con đường phát triển của đất nước, sớm thể hiện tư duy đổi mới về kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp. Đồng chí trân trọng, ủng hộ những sáng kiến của cán bộ, nhân dân và địa phương; cùng tập thể Trung ương lãnh đạo đất nước vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội, phá thế bao vây, cấm vận, giữ vững ổn định chính trị, mở rộng quan hệ đối ngoại và đạt được nhiều thành tựu có ý nghĩa lịch sử.
Từ tháng 6/1991 đến tháng 12/1997, đồng chí là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tiếp tục đóng góp trí tuệ, kinh nghiệm cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngày 08/9/2011, đồng chí từ trần tại Thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 100 tuổi.
Với những cống hiến to lớn, đồng chí Võ Chí Công được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng cùng nhiều phần thưởng cao quý khác. Tên của đồng chí được đặt cho nhiều tuyến đường ở Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh; khu tưởng niệm đồng chí được xây dựng tại quê hương thôn Khương Mỹ, xã Tam Xuân 1, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Võ Chí Công là tấm gương sáng về lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Đồng chí luôn thể hiện phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, sống giản dị, khiêm tốn, hết lòng giữ gìn đoàn kết trong Đảng, gắn bó máu thịt với nhân dân và phấn đấu trọn đời vì lợi ích của dân tộc.
Đồng chí Võ Chí Công là người chiến sĩ cộng sản kiên cường, nhà lãnh đạo thực tiễn xuất sắc, một học trò tiêu biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tên tuổi, sự nghiệp và phẩm chất cao đẹp của đồng chí mãi mãi là niềm tự hào của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, là tấm gương quý báu cho các thế hệ hôm nay và mai sau noi theo.



