VÕ CHÍ CÔNG: Từ Chiến Sĩ Tiên Phong Đến Kiến Trúc Sư Đất Nước
VÕ CHÍ CÔNG: Từ Chiến Sĩ Tiên Phong Đến Kiến Trúc Sư Đất Nước
Nếu lịch sử là một bản giao hưởng vĩ đại, thì cuộc đời Đồng chí Võ Chí Công (Bí danh Năm Công) chính là một chương nhạc hùng tráng, mở đầu bằng những nốt trầm của thử thách và kết thúc bằng âm vang của vinh quang dân tộc. Sinh ngày 07 tháng 8 năm 1912 tại Tam Xuân, Quảng Nam, đồng chí đã mang trong mình hồn cốt của dải đất miền Trung kiên cường, nơi sản sinh ra những ý chí không bao giờ khuất phục.
Tuổi thanh xuân của Võ Chí Công không thuộc về những thú vui cá nhân mà thuộc về lý tưởng cộng sản. Ngay từ thập niên 30, đồng chí đã hòa mình vào phong trào cách mạng, nhanh chóng trưởng thành từ một chiến sĩ thanh niên tiên phong trở thành người lãnh đạo cốt cán, từ Bí thư chi bộ (1936) đến Bí thư Huyện ủy Tam Kỳ (1939). Sự tin tưởng của Đảng đã giao cho đồng chí nhiệm vụ gầy dựng cơ sở cách mạng dọc dải đất miền Trung.
Thế nhưng, con đường cách mạng không trải hoa hồng. Bị địch bắt và đày ải nơi ngục tù (1943-1945), những năm tháng ấy không làm suy giảm mà ngược lại, càng tôi luyện ý chí đồng chí trở nên sắt đá. Ngay khi thoát khỏi xiềng xích, đồng chí Võ Chí Công lập tức trở về quê hương, trở thành Trưởng ban khởi nghĩa tỉnh, phất cờ chỉ huy giành thắng lợi tuyệt đối trong cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 tại Quảng Nam. Sự kiện này khép lại một chương đời đầy thử thách, mở ra một giai đoạn mới, đòi hỏi bản lĩnh của một nhà lãnh đạo chiến trường.
Sau giai đoạn xây dựng chính quyền non trẻ, cuộc đời đồng chí gắn liền với chiến trường khốc liệt nhất của đất nước. Bản lĩnh chính trị và tầm nhìn chiến lược của đồng chí Võ Chí Công được thể hiện rõ nét nhất trên cương vị lãnh đạo chủ chốt tại miền Nam.
Từng bước một, từ Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam (1952) đến Bí thư Khu ủy V (1960), đồng chí trở thành linh hồn của cách mạng Khu V. Trọng trách càng lớn hơn khi đồng chí đảm nhận vai trò Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam, kiêm Chính ủy Quân khu V, và là Phó Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Với sự kết hợp hoàn hảo giữa vai trò quân sự và chính trị, đồng chí đã góp phần xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, kiến tạo khối đại đoàn kết không gì lay chuyển, góp phần quyết định vào thắng lợi vĩ đại của đất nước năm 1975. Từ người chiến sĩ trở thành vị tướng lĩnh, sự tận hiến của đồng chí Võ Chí Công là không biên giới.
Đất nước thống nhất, đồng chí Võ Chí Công bước vào một sứ mệnh mới, kiến thiết và đổi mới. Với uy tín và kinh nghiệm chiến trường, đồng chí được bầu vào Bộ Chính trị các khóa IV, V và giữ nhiều trọng trách quan trọng trong Chính phủ: Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm các Bộ: Hải sản, Nông nghiệp, và Trưởng ban Cải tạo nông nghiệp miền Nam. Trong vai trò Thường trực Ban Bí thư (1982-1986), đồng chí là một trong những nhà lãnh đạo tiên phong trăn trở tìm ra lối thoát cho kinh tế đất nước, đặt nền móng cho công cuộc Đổi mới sau này.
Đỉnh cao của sự nghiệp phụng sự dân tộc là khi đồng chí giữ chức Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (1987-1992). Trên cương vị nguyên thủ quốc gia, đồng chí đã lãnh đạo đất nước vượt qua giai đoạn chuyển giao đầy thử thách, củng cố vững chắc hệ thống chính trị và mở rộng quan hệ đối ngoại. Ngay cả khi đã rời ghế lãnh đạo cao nhất, trong vai trò Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, VIII, đồng chí vẫn luôn dõi theo, hiến kế cho sự phát triển của quê hương.
Đồng chí Võ Chí Công đã vĩnh biệt chúng ta vào ngày 08 tháng 9 năm 2011, khép lại một cuộc đời đã hiến dâng trọn vẹn cho lý tưởng. Sự nghiệp của đồng chí là bản di chúc vô giá, khắc sâu vào tâm khảm mỗi người Việt Nam về một nhà lãnh đạo “trọn đời vì nước, vì dân,” mãi mãi là biểu tượng của bản lĩnh thép và tấm lòng vàng son.



