Vợ chồng thương binh Huỳnh Đức Nữa – Cao Thị Hoa: Tình yêu bền bỉ giữa những năm tháng bom đạn
Quảng Nam đầu tháng Sáu nóng như muốn bóc cả mặt đất lên mà hun cho cháy đỏ. Cái nắng ấy không chỉ đổ lửa xuống cánh đồng mà còn nhen lại những vết thương cũ trong cơ thể ông Huỳnh Đức Nữa – người thương binh Đặc công biệt động từng lăn xả giữa lòng Đà Nẵng năm nào. Đêm đến, ông trở mình, đau nhói từng thớ thịt nơi đôi chân đã mất. Giấc ngủ trôi đi như sợ phải nằm cạnh nỗi đau.
Ở bên ông, bà Cao Thị Hoa vẫn kiên nhẫn như suốt gần nửa thế kỷ qua: xoa bóp từng mảng da co rút, bón từng muỗng cháo, chăm ông như thể chăm chính linh hồn của mình. Căn nhà cấp 4 xây từ năm 1986, tường còn vết loang thời gian, treo lặng lẽ những tấm huân chương đã bạc màu – những chứng nhân của cuộc đời ông: một cậu bé vùng quê nghèo Điện Ngọc học hết lớp 5 đã bước vào đội du kích từ năm 1964, rồi trở thành chiến sĩ đặc công biệt động quận 3 – Đà Nẵng. Ông từng lao mình vào những trận đánh giữa lòng thành phố, phá rối hậu phương địch, ba lần được phong Dũng sĩ diệt Mỹ. Một thời tuổi trẻ rực lửa, rực đến mức cháy cả tương lai.
Người ta gặp nhau giữa phố thị, còn ông bà lại gặp nhau giữa bệnh viện dã chiến – nơi hòa lẫn mùi thuốc, mùi mồ hôi và mùi của những trái tim trẻ lạc nhau giữa chiến tranh. Cuối năm 1973, ông ra Bắc để điều trị vết thương. Bà Hoa khi ấy là y tá của Huyện đội Duy Xuyên, nhẹ nhàng, kiên cường, cũng lớn lên trong tiếng bom rền như ông.
Không có lời tỏ tình nào lãng mạn, không có bó hoa nào giữa bom đạn. Họ chỉ trao nhau một lời hẹn giản dị nhưng thiêng liêng đến rợn người:
Nếu một trong hai ngã xuống, người còn lại sẽ thắp một nén nhang.
Nếu còn sống, dù Bắc hay Nam, dù bão giông hay chia cắt, vẫn phải tìm cho bằng được nhau.
Câu hẹn ấy như sợi chỉ đỏ cột hai con người giữa thời đại mà cái chết luôn đứng sau lưng.
Ngày 10/3/1975, trong trận đánh căn cứ địch ở Phước Lâm – Tiên Phước, ông Nữa đặt chân lên một quả mìn. Mảnh nổ lấy đi đôi chân ông, cướp cả những ngày tháng bình thường mà con người đáng ra phải được sống.
Bà Hoa lúc ấy vẫn đang phục vụ chiến dịch, không thể vào thăm. Sau giải phóng, bà xin đơn vị cho mình được đi tìm ông – người đàn ông của lời hẹn năm xưa. Bà đi qua từng bệnh viện miền Trung, hỏi từng y tá, từng thương binh, đạp xe gần 50km về Điện Ngọc để tìm gia đình ông. Nhưng tất cả đều mù mờ như sương mỏng đầu buổi sáng. Không ai biết ông đã ra Bắc, cũng không ai biết ông còn sống hay đã nằm lại bên những người đồng đội. Từ phương xa, vì không muốn trói buộc bà vào cuộc đời thương tật của mình, ông Nữa gửi thư khuyên bà:
“Em đừng chờ anh nữa. Hãy chọn một người có thể mang hạnh phúc đến cho em.”
Nhưng lời dặn ấy chẳng thắng nổi trái tim một người phụ nữ Quảng Nam cứng như đất, bền như sóng. Bà không chọn ai khác. Không thể.
Cuối năm 1976, sau bao tháng năm tìm nhau trong vô vọng, họ cuối cùng đứng cạnh nhau trong căn nhà nhỏ của gia đình, trước sự chứng kiến của thủ trưởng, đồng đội và người thân. Không đám cưới rộn ràng, không áo cưới đẹp đẽ. Chỉ có hai con người từng hứa sẽ tìm lại nhau – và họ đã giữ trọn lời hứa ấy.
Bà Hoa sau đó phục viên, quay về Điện Ngọc, làm công tác phụ nữ xã để vừa có thể góp sức cho quê hương, vừa có thể túc trực chăm ông. Gần nửa thế kỷ trôi qua, bà vẫn là đôi chân tinh thần của ông, là nhịp sống bền bỉ trong gia đình nhỏ.
Chiến tranh tàn nhưng hậu quả còn nặng đến nhiều thế hệ. Ông bà có một người con và một cháu bị ảnh hưởng chất độc da cam/dioxin. Dẫu vậy, gia đình ấy vẫn không gục ngã.
Ông tập dùng xe lăn, mỗi buổi sáng đều đẩy xe chở con đi học, đôi tay thay đôi chân. Ông dạy toán, dạy chữ, dạy con niềm tin rằng người cha không cần đôi chân vẫn có thể đứng vững bằng ý chí.
Năm 1986, Nhà nước hỗ trợ gạch và ngói để ông bà dựng lên căn nhà nhỏ – căn nhà đến bây giờ vẫn là nơi giữ ký ức của một thời thanh xuân rực cháy. Những lúc trời nóng, vết thương đau nhức, bà lại xoa bóp cho ông. Mỗi động tác của bà đều như một câu khẳng định: “Ông không một mình.”
Có lần ông bảo:“Tôi may mắn hơn nhiều đồng đội đã nằm lại trước ngày chiến thắng. Cuộc đời thương tôi khi cho tôi gặp người vợ thủy chung, nghĩa tình.”
Và thật vậy, giữa những tàn tích chiến tranh, tình yêu của họ là điều còn sót lại – không mất đi, không mòn, không phai.



