Võ Đại Huệ – người cha ở lại Mường Khương và hai người con tiếp bước
háng 8 năm 1978, trước khi lên đường nhận nhiệm vụ ở biên giới phía Bắc, Võ Đại Huệ trở về thăm gia đình tại xã Nghi Xá, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
Võ Đại Huệ – người cha ở lại Mường Khương và hai người con tiếp bước | Câu chuyện thời hoa lửa
Trang chủ›Thư viện ký ức sống mãi›Võ Đại Huệ – người cha ở lại Mường Khương và hai người con tiếp bước
Bài viết
Võ Đại Huệ – người cha ở lại Mường Khương và hai người con tiếp bước
Tháng 2/1979, Đại đội trưởng Võ Đại Huệ trực tiếp chỉ huy bộ đội chặn xe tăng, giữ trận địa tại Mường Khương rồi hy sinh khi phá vòng vây. Anh ra đi ở tuổi 27, để lại con trai ba tuổi và người con gái chưa chào đời. Sau này, cả hai người con đều trở thành cán bộ Bộ đội Biên phòng.
Lào Cai22/08/2026Chi Đoàn trường TH&THCS Nguyễn Du (Tuy Đức)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
Tháng 8 năm 1978, trước khi lên đường nhận nhiệm vụ ở biên giới phía Bắc, Võ Đại Huệ trở về thăm gia đình tại xã Nghi Xá, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
Tình hình biên giới khi ấy ngày càng căng thẳng. Dù không thể nói hết với vợ về nhiệm vụ sắp tới, người sĩ quan trẻ vẫn cảm nhận được nguy hiểm đang đến gần. Anh dặn vợ rằng nếu mình gặp chuyện, chị hãy ở lại nuôi các con và thay anh chăm sóc cha mẹ già.
Đó là lần cuối cùng Hoàng Thị Bích Nhật được gặp chồng.
Khi Võ Đại Huệ lên đường, con trai đầu lòng Võ Trọng Hùng mới khoảng ba tuổi. Trong bụng người vợ trẻ còn có một đứa con khác – bé gái Võ Thị Hồng Thanh chưa từng được nhìn thấy mặt cha.
Võ Đại Huệ sinh năm 1952 tại xã Nghi Xá, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Theo lời kể của gia đình, anh nhập ngũ khi còn rất trẻ. Từ năm 1969 đến năm 1972, anh chiến đấu tại những địa bàn ác liệt như Đường 9, Khe Sanh và Tây Nguyên.
Chiến trường đã tôi luyện chàng trai xứ Nghệ thành một cán bộ chỉ huy vững vàng. Trong kháng chiến chống Mỹ, anh lập nhiều thành tích và được trao tặng hai Huân chương Chiến công.
Năm 1973, Võ Đại Huệ ra miền Bắc học tại Trường Sĩ quan Lục quân 1. Sau ngày đất nước thống nhất, thay vì tìm một công việc yên ổn, anh tình nguyện chuyển sang Công an nhân dân vũ trang, lực lượng ngày nay là Bộ đội Biên phòng.
Năm 1976, anh kết hôn với chị Hoàng Thị Bích Nhật. Gia đình nhỏ bắt đầu những năm tháng tưởng như đã có thể bình yên sau chiến tranh. Võ Đại Huệ từng làm công tác giảng dạy tại Trường Sĩ quan Biên phòng. Nhưng tháng 8 năm 1978, anh nhận lệnh lên Lào Cai, đảm nhiệm chức vụ Đại đội trưởng Đại đội 11, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 16, tăng cường bảo vệ tuyến biên giới phía Bắc.
Sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, pháo binh đồng loạt bắn vào khu vực Mường Khương. Sau những loạt pháo cấp tập, bộ binh có xe tăng yểm trợ tiến vào trận địa.
Đại đội của Võ Đại Huệ đứng trước một tình huống vô cùng nguy hiểm. Nếu bộ binh và xe tăng phối hợp được với nhau, tuyến phòng thủ có thể nhanh chóng bị xuyên thủng.
Dựa vào kinh nghiệm chiến đấu đã tích lũy tại Đường 9, Khe Sanh và Tây Nguyên, Võ Đại Huệ bình tĩnh quan sát đội hình đối phương. Anh chỉ huy các bộ phận hỏa lực tập trung đánh vào lực lượng bộ binh, làm đội hình này không thể theo sát xe tăng.
Khi những chiếc xe tăng phải chậm lại và dồn ứ trên đường, Võ Đại Huệ trực tiếp dẫn một tổ chiến đấu mang súng B40 tới ngã ba Mản Tuyển để chặn đánh. Tại đây, những người lính áp sát, lựa chọn vị trí thuận lợi rồi bắn vào đội hình xe tăng.
Nhiều chiếc bị bắn cháy, số còn lại tiếp tục tìm đường tiến về phía Mường Khương. Võ Đại Huệ lại dẫn tổ B40 chạy tắt qua địa hình rừng núi, đón trước hướng di chuyển của chúng.
Người đại đội trưởng không đứng ở vị trí phía sau để phát lệnh. Anh mang súng chống tăng, trực tiếp có mặt tại những điểm nguy hiểm nhất. Sự chủ động ấy giúp đơn vị chia cắt đội hình tiến công, tiếp tục giữ vững trận địa trong ngày đầu của cuộc chiến.
Sáng ngày 18 tháng 2, sau khi được pháo binh yểm trợ, lực lượng đối phương chia thành ba mũi tiến công lên núi Na Khui.
Trận chiến kéo dài nhiều giờ. Pháo nổ giữa núi rừng, các đợt bộ binh liên tục đánh lên. Võ Đại Huệ cơ động giữa các vị trí, chỉ huy chiến sĩ phối hợp hỏa lực và đánh bật nhiều đợt tiến công khỏi trận địa.
Trong lúc chiến đấu, anh bị thương ở tay.
Đồng đội đề nghị người chỉ huy lùi về phía sau để băng bó, nhưng Võ Đại Huệ vẫn ở lại. Anh tự khắc phục vết thương, tiếp tục quan sát và động viên bộ đội giữ vững tinh thần. Dưới sự chỉ huy của anh, đơn vị đẩy lùi 11 đợt tiến công trong ngày, bảo vệ được vị trí trên núi Na Khui.
Đến chiều, trước tình thế lực lượng bị bao vây dày đặc, cấp trên ra lệnh cho đơn vị rời trận địa, cơ động đến một vị trí mới.
Phá vòng vây trong điều kiện địa hình rừng núi, đường đi bị khống chế và nhiều chiến sĩ đã bị thương là một nhiệm vụ hết sức khó khăn. Võ Đại Huệ tiếp tục đi cùng lực lượng phía sau, vừa tổ chức đội hình rút lui, vừa chiến đấu ngăn các mũi truy kích.
Trên đường đưa đơn vị tới vị trí mới, anh trúng đạn và hy sinh.
Võ Đại Huệ ra đi khi mới 27 tuổi.
Tại quê nhà, người vợ trẻ chưa được báo ngay tin dữ. Gia đình vẫn nuôi hy vọng anh còn sống. Phải đến cuối tháng 12 năm 1979, khi được đưa lên Mường Khương và tận mắt nhìn thấy phần mộ chồng tại nghĩa trang mặt trận, chị Hoàng Thị Bích Nhật mới tin rằng anh không trở về.
Chị khi ấy mới khoảng 25 tuổi, một mình nuôi con trai nhỏ và người con gái được sinh ra sau ngày cha hy sinh. Cuộc sống của ba mẹ con vô cùng vất vả. Ngoài thời gian làm công tác kế toán, chị Nhật phải chăn nuôi, trồng trọt và thu mua phế liệu để có thêm tiền nuôi con.
Có thời gian, Võ Trọng Hùng theo mẹ đi nhặt và thu mua chai lọ từ khi còn học trung học. Nhưng ký ức về người cha đã ngã xuống nơi biên giới dần trở thành động lực để hai anh em trưởng thành.
Năm 1995, Võ Trọng Hùng nhập ngũ trong lực lượng Bộ đội Biên phòng Nghệ An. Sau quá trình học tập và công tác, anh trở thành sĩ quan biên phòng, gắn bó với những đồn trên miền núi phía tây Nghệ An.
Người em gái Võ Thị Hồng Thanh – cô con gái chưa chào đời khi cha hy sinh – cũng lựa chọn quân ngũ. Chị công tác tại Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng Cửa Lò – Bến Thủy, bảo vệ khu vực biên giới biển của quê hương.
Một người con lên rừng, một người con xuống biển.
Hai hướng công tác khác nhau nhưng đều tiếp nối nhiệm vụ người cha đã lựa chọn: bảo vệ đường biên và chủ quyền của Tổ quốc.
Võ Đại Huệ được truy thăng quân hàm Trung úy và truy tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất. Ngày 19 tháng 12 năm 1979, anh được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Tên anh sau này được đặt cho một tuyến đường tại thành phố Lào Cai.
Năm 2010, trong quá trình làm đường tại khu vực ngã ba Na Khui, đơn vị thi công phát hiện một số di vật của liệt sĩ gồm thắt lưng, dép, áo quân phục cùng một lọ thủy tinh nhỏ. Bên trong lọ có mảnh giấy ghi tên “Võ Đại Huệ”. Những di vật ấy được đưa về Nghĩa trang liệt sĩ huyện Mường Khương, an táng cạnh phần mộ mang tên anh.
Người đại đội trưởng trẻ đã ở lại Mường Khương, nơi anh chiến đấu trong những giờ phút cuối cùng. Nhưng con đường của anh không dừng lại vào ngày 18 tháng 2 năm 1979.
Nó được người con trai tiếp nối trên những con đường tuần tra miền biên giới rừng núi; được người con gái tiếp nối tại cửa biển quê hương. Lời dặn trong lần về phép cuối cùng đã trở thành trách nhiệm mà ba mẹ con cùng gìn giữ bằng cả cuộc đời.
Nghe bài viếtGiọng đọc AI tiếng Việt
1×
Hồ sơ nhân chứng
Quê quán / Địa bàn
Lào Cai
Loại nội dung
Bài viết
Ngày đăng
22/08/2026
Lượt xem
1
Lượt chia sẻ
0
Đã duyệt bởi
Tỉnh · Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Tỉnh Lâm Đồng
Chia sẻ câu chuyện
Câu chuyện liên quan

Làm tuyên truyền với tù, hàng binh Pháp
Bài viếtLào Cai

Sát Hải Đại vương Hoàng Tá Thốn.
Bài viếtLào Cai

NHỮNG LỚP HỌC DƯỚI HẦM BOM-GIỮ LẤY VIỆC HỌC GIỮA CHIẾN TRANH
Bài viếtLào Cai

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?
Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên
Gửi câu chuyện của bạn

Đề án 20-ĐA/TWĐTN-CTĐ của Ban Bí thư
Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
Khám phá
Về đề ánThư viện ký ứcBản đồ ký ứcSự kiệnVinh danh
Tham gia
Gửi câu chuyệnĐăng nhậpĐăng kýLiên hệ
Kết nối
tuyengiaotwd@gmail.com
60 Bà Triệu, Cửa Nam, Hà Nội
Đối tác hạ tầng & chuyển đổi số: Tino Group
© Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. All rights reserved.
Xin tri ân những người đã viết nên những trang sử vàng cho Tổ quốc
Chính sách bảo mật · Điều khoản sử dụng



