Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

VÕ DUY DƯƠNG - NGƯỜI ANH HÙNG CHỐNG PHÁP ĐẤT ĐỒNG THÁP MƯỜI

Vĩnh Long31/07/2026Xã Ba Sao (Xã Ba Sao)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Võ Duy Dương hay còn gọi là Thiên Hộ Dương sinh năm 1827 phủ Tuy Viễn, nay là huyện An Nhơn - Bình Định trong một gia đình nông dân. Sống ở mảnh đất Bình Định vốn nổi tiếng với võ thuật, từ nhỏ ông đã có sức khỏe hơn người, hay tụ tập đám trẻ mục đồng chơi trò đánh trận giả và chuyên tâm rèn luyện võ nghệ.

Năm 1857 ông di cư vào miền Nam và sống ở thôn Ba Giồng, ông tích cực huy động nhân dân khai khẩn đất hoang nên được triều đình ban cho chức Thiên Hộ, từ đây mọi người gọi ông là Thiên Hộ Dương.

Năm 1858, Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam. Một năm sau, thành Gia Định thất thủ, ông vượt biển ra Huế dâng kế sách chống giặc cho vua Tự Đức. Đến tháng 5-1861, ông theo lệnh vua cùng Đỗ Thúc Tịnh vào Nam mộ quân đánh Pháp. Ông về lại đất Ba Giồng cùng người bạn thân Thủ Khoa Huân lập căn cứ chống Pháp ở Bình Cách, Chợ Gạo - Tiền Giang, trong thời gian ngắn ông đã chiêu mộ được hơn 1000 người. Ông liên tiếp mở các cuộc tấn công vào rạch Bảo Định, đồn Cái Thia (Cái Bè). Đến tháng 1-1862, ông thống nhất các lực lượng ở Cái Bè, Thuộc Nhiêu, Mỹ Quý, Bình Cách thành trung tâm kháng chiến ở phía Bắc tỉnh Định Tường, ông còn liên kết với nghĩa quân Trương Định ở Tân Hòa cùng chung tay chống Pháp.

Tháng 4-1862, Pháp mở cuộc tấn công lớn vào đồn Mỹ Quý, nghĩa quân kiên cường chiến đấu suốt 56 ngày đêm, Đỗ Thúc Tịnh hy sinh, Nguyễn Hữu Huân bị bắt, Võ Duy Dương phải rút quân về Bình Cách. Cùng năm, triều đình Huế ký hòa ước nhường 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp, ông đem quân hội quân với nghĩa quân Trương Định, Võ Duy Dương được phong chức chánh đề đốc.

Trong 2 đêm 17 & 18-12-1862, nghĩa quân Trương Định - Võ Duy Dương đồng loạt tấn công Pháp trên khắp chiến trường miền Đông Nam Kỳ: Tân Hòa, Gò Công, Bình Cách, Thuộc Nhiêu làm cho địch vô cùng khốn khổ. Sau cuộc tập kích, Pháp tập trung lực lượng mạnh tấn công căn cứ chính Tân Hòa. Trương Định rút quân về Lý Nhơn (Cần Giờ) rồi sau lại rút về vùng đám lá tối trời ở Gò Công. Đến năm 1864, Pháp dồn binh đột kích căn cứ, Trương Định hy sinh. Cùng năm, Nguyễn Hữu Huân bị bắt ở An Giang. Nghĩa quân Võ Duy Dương rút về Đồng Tháp Mười xây dựng căn cứ mới, tiếp tục chiến đấu.

Từ đây, Đồng Tháp Mười trở thành trung tâm kháng Pháp mới của đất Nam Kỳ.

Đồng Tháp Mười xưa là một vùng thiên nhiên hoang dã, cây cối rậm rạp, thú dữ đầy đồng, dân cư thưa thớt, đường đi không có. Lại thêm nắng cả mưa nhiều, sình lầy nước đọng quanh năm, địa thế hiểm yếu, dễ thủ khó công. Từ Đồng Tháp Mười có thể tiến lên miền Đông, lui xuống miền Tây hay rẽ sang Campuchia đều thuận lợi. Ở vùng Gia Định, Pháp có thể kết hợp cả bộ binh, pháo binh và xe tăng thiết giáp để càn quét còn ở Đồng Tháp Mười thì chỉ có thể dùng bộ binh. Đó cũng chính là lợi thế cho ta để xây dựng căn cứ chống Pháp lâu dài. Thiên Hộ Dương đã xây dựng tại nơi đây 1 hệ thống đồn luỹ liên hoàn với đại bản doanh đặt tại Gò Tháp. Ông chiêu mồ thêm được nhiều nghĩa sĩ yêu nước, tiêu biểu nhất là phó tướng: Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều.

Từ Đồng Tháp Mười, nghĩa quân dùng chiến thuật du kích đánh Pháp trên cả 1 địa bàn rộng lớn: Tân An, Cai Lậy, Cái Bè, Mỹ Quý, Thủ Thừa, Cao Lãnh, Hồng Ngự, Mỹ Tho. Thực dân Pháp thời đó rất kinh hoàng vùng đất này: cầu khỉ, hầm chông, ong vò vẻ, rắn rết, đi lẻ thì bị bắn tỉa mà tập trung thì bị nghĩa quân tập kích.

Ngày 22-7-1865, nghĩa quân đánh úp đồn Mỹ Trà. Lợi dụng sự sơ hở của lính Pháp, nghĩa quân trong ứng ngoài hợp tấn công đồn khiến Pháp ko kịp trở tay, thiệt hại nặng nề. Vua Tự Đức thấy nghĩa quân đang thắng lợi, bí mật sai người vào Nam sắc phong cho Võ Duy Dương làm lãnh binh. Đồng Tháp Mười đã cổ vũ cho phong trào kháng Pháp lan rộng khắp Nam Kỳ Lục Tỉnh. Thực dân Pháp lo ngại, quyết dồn toàn bộ lực lượng nhằm tiêu diệt căn cứ trung tâm này của ta.

Ngày 18-4-1866, quân Pháp do đô đốc De La Grandiere đã huy động lực lượng hùng hậu với 1000 quân thuỷ bộ cùng với tàu chiến và đại bác chia làm 3 mũi tấn công vào Đồng Tháp Mười. Nhiều trận kịch chiến ác liệt đã xảy ra trong suốt gần 10 ngày tiếp theo, nghĩa quân Thiên Hộ Dương đã gây cho địch nhiều khó khăn nhưng cũng đối mặt với khó khăn lớn trước sức mạnh đại bác dữ dội của Pháp, hai phó tướng là Thống Linh và Đốc binh Kiều hy sinh. Để bảo toàn lực lượng, Thiên Hộ Dương cho rút quân để bảo toàn lực lượng theo 2 hướng về vùng Cái Thia & Cái Bè.

Sau đó nghĩa quân lại sang Cao Lãnh rồi sang vùng biên giới Campuchia liên kết với nghĩa quân Trương Quyền và nghĩa quân Khmer Pucombo củng cố lực lượng, hình thành 1 liên minh chiến đấu mới.

Tháng 6-1866, liên quân Việt-Khmer tấn công đồn Tây Ninh, diệt 2 tướng Pháp. 7 ngày sau, nghĩa quân phục kích tại Rạch Dinh, tiêu diệt một trung tá và nhiều lính Pháp. Đến ngày 24-6 lại tấn công đồn Thuận Kiều và Trảng Bàng. Pháp gây sức ép buộc vua Tự Đức phải ra chỉ dụ truy nã Võ Duy Dương, Trương Quyền và Pucombo. Ngày 27-6, Pháp tập trung lực lượng tấn công vào căn cứ của Võ Duy Dương ở cầu An Hạ, nghĩa quân kháng cự quyết liệt nhưng do chênh lệch về lực lượng và vũ khí nên đành chịu thiệt hại nặng nề phải tiếp tục rút lui.

Võ Duy Dương cho người dâng sớ về kinh thành Huế xin viện trợ của triều đình, bản thân ông tháng 10-1866 cũng tự mình đi thuyền ra Huế để vừa xin triều đình giúp đỡ vừa liên lạc với nghĩa sĩ miền Trung nhằm gây dựng lại lực lượng. Nhưng khi đến cửa biển Cần Giờ thì ông và các thuyền viên đều tử nạn. Cái chết không rõ ràng của ông được các sử gia đương thời dự đoán có 3 tình huống:

1. Ông thực sự bị tai nạn ở biển

2. Thực dân Pháp bí mật sai người ám sát ông để trừ hậu hoạ

3. Triều đình Huế muốn làm đẹp lòng Pháp, sợ Pháp lấy cớ ông khởi nghĩa mà tiếp tục chiếm đất nên bí mật sai người ám sát ông.

Sự ra đi của một người anh hùng nghĩa dũng một cách không từ minh lúc mới 39 tuổi là một tổn thất lớn của phong trào chống Pháp đất Nam Kỳ. Chính thực dân Pháp thừa nhận ông cùng với Trương Định và Nguyễn Trung Trực là những thủ lĩnh An Nam gây cho chúng nhiều khó khăn nhất trong buổi đầu xâm lược Việt Nam.

Ghi nhận công lao của Võ Duy Dương, vua Tự Đức cho người tìm xác ông về an táng, chu cấp cho mẹ ông mỗi tháng 5 quan tiền, 1 phương gạo đồng thời lập sắc phong cho gia đình ông. Nhân dân Nam bộ từ lâu đã lập đền thờ ông và các tướng lĩnh theo ông ở khu Gò Tháp - Đồng Tháp Mười - nơi ông từng gây cho giặc Pháp một phen thất điên bát đảo. Ở quê nhà Bình Định cũng có đền thờ ông.

May mắn có dịp ghé khu di tích Gò Tháp, thành kính đốt một nén nhang cho người con quang vinh của dân tộc ta.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn