Võ Duy Dương (Thiên Hộ Dương)
Thiên hộ Dương tên thật là Võ Duy Dương sinh năm 1827 tại thôn Cù Lâm Nam, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định (nay là thôn Nam Tương, xã Nhơn Tân, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định) trong một gia đình nông dân nghèo, cần cù; nhưng hiếu học.
hiên hộ Dương tên thật là Võ Duy Dương sinh năm 1827 tại thôn Cù Lâm Nam, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định (nay là thôn Nam Tương, xã Nhơn Tân, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định) trong một gia đình nông dân nghèo, cần cù; nhưng hiếu học.
Thưở thiếu thời, ông rất chăm học, có sức khỏe hơn người và tinh thông võ nghệ, được mọi người gọi là “Ngũ linh Dương”, bởi vì cùng một lúc, ông cử nổi năm quả tạ (người Bình Định gọi quả tạ là “linh”), mỗi quả nặng 60 cân ta. Trong khoảng năm 1857 - 1858, ông chiêu mộ dân nghèo vào khai hoang lập ấp ở vùng Ba Giồng thuộc tỉnh Định Tường (nay là tỉnh Tiền Giang), góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội và ổn định đời sống dân cư ở khu vực này.
Tháng 02-1859, thực dân Pháp chiếm thành Gia Định. Trước cảnh nước mất nhà tan, ông đã cùng với Nguyễn Hữu Huân chiêu tập nghĩa sĩ, phất cờ khởi nghĩa, chống giặc ngoại xâm. Do có những thành tích xuất sắc trong chiến đấu, tháng 5-1859, ông được triều đình phong chức Chánh quản đạo.
Sau đó, ông trở về kinh đô Huế, dâng kế sách chống giặc Pháp lên nhà vua. Lúc bấy giờ, ở Quảng Ngãi có giặc Đá Vách nổi lên làm loạn; quan quân địa phương không tài nào trị được. Biết ông là người dũng trí toàn tài, nên vua Tự Đức giao cho ông nhiệm vụ đánh dẹp; và ông đã hoàn thành mỹ mãn trọng trách được giao phó. Năm 1860, để tưởng thưởng công lao, triều đình đã phong ông chức Chánh thất phẩm Thiên hộ. Tên gọi Thiên hộ Dương có từ đó.
Tháng 5-1861, ông trở lại Ba Giồng chỉ huy cuộc kháng chiến chống Pháp. Tại đây, ông đã chiêu mộ hơn 1000 quân nghĩa dũng, nên được triều đình phong chức Quản cơ vào tháng 9-1861, cùng lúc với Trương Định. Nhận thấy Ba Giồng là nơi đông dân, nhiều của; lại là cửa ngõ đi vào vùng đồng bằng sông Cửu Long; hơn nữa, nhân dân ở đây rất quyết tâm chống giặc; nên ông đã xây dựng nơi đây thành một trung tâm kháng chiến mạnh mẽ, tồn tại đồng thời với trung tâm kháng chiến Tân Hòa (Gò Công) của Trương Định.
Cuộc kháng chiến do ông lãnh đạo đã thu hút được mọi tầng lớp nhân dân tham gia: nông dân, dân binh đồn điền, quan lại, địa chủ, phú hào yêu nước,… Nghĩa quân hoạt động trên một địa bàn rất rộng: từ phía nam sông Vàm Cỏ Tây, dọc theo kênh Bảo Định và sông Tiền, đến tận Cai Lậy và Cái Bè. Đồng thời, ông còn thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với các lãnh tụ Trương Định ở Gò Công, Trần Xuân Hòa ở Cai Lậy, Bùi Quang Diệu ở Long An,… nhằm phối hợp trong chiến đấu.
Dưới sự chỉ huy của ông, nghĩa quân đã tiến hành những trận đánh dũng mãnh và thu được những thắng lợi vang dội, điển hình là trận tấn công đồn Bourdais (04-9-1861), trận Cái Thia (14-10-1861), trận Cai Lậy (15-10-1861), trận Kỳ Hôn (22-10-1861), trận Rạch Gầm (tháng 11- 1861),… Bên cạnh đó, nghĩa quân còn đẩy mạnh công tác diệt ác trừ gian, như ngày 17-10-1861, nghĩa quân đột nhập vào đồn Cai Lậy, diệt 1 tên đội; trong các ngày 22, 23, 24-11-1861, nghĩa quân len lõi vào vùng địch tạm chiếm, diệt các tên xã trưởng của các xã Mỹ Quý, Trung Lương, Tân Lý, Mỹ An,…
Trước tình hình đó, thực dân Pháp tập trung lực lượng đàn áp cuộc khởi nghĩa. Để bảo toàn lực lượng, cuối năm 1864, ông rút quân vào Đồng Tháp Mười, xây dựng căn cứ mới, tiếp tục cuộc kháng chiến chống Pháp.
Tại đây, dưới sự chỉ huy của ông, nghĩa quân đã thực hiện chiến thuật du kích, đánh vào các đồn nhỏ và những toán quân tuần tiểu của địch, khiến bọn chúng đối phó vô cùng vất vã. Đến giữa năm 1865, lực lượng được hồi phục, ông ra lệnh cho nghĩa quân đánh kỳ tập vào các vị trí quân sự trọng yếu của địch, gây cho quân Pháp những thiệt hại nặng nề, tiêu biểu là hai trận tấn công đồn Mỹ Trà vào tháng 7 và cuối năm 1865, trận Cái Nứa vào tháng 3-1866.
Lo sợ ảnh hưởng ngày càng tỏa rộng của nghĩa quân, tháng 4-1866, thực dân Pháp huy động 1.000 quân thiện chiến mở cuộc tấn công đại quy mô vào căn cứ Đồng Tháp Mười. Nghĩa quân đã anh dũng chống trả. Cuộc chiến đấu không cân sức diễn ra rất ác liệt. Do sức giặc quá mạnh, ông buộc phải rút quân lên vùng Đức Hòa (Long An) để liên minh với nghĩa quân Trương Quyền và nghĩa quân Campuchia do Pukombô lãnh đạo nhằm tiếp tục chống giặc Pháp xâm lược. Tháng 10-1866, Võ Duy Dương đi đường biển ra Bình Thuận nhằm vận động các tỉnh nam Trung kỳ giúp đỡ tiền bạc, lương thực, vũ khí cho các cuộc kháng chiến của nhân dân Nam kỳ. Nhưng không may, khi đến cửa biển Thần Mẫu (nay thuộc Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh), ông bị bọn cướp biển giết hại, để lại bao niềm thương tiếc cho nhân dân và nghĩa sĩ.
Để tưởng nhớ Võ Duy Dương, tại Gò Tháp (xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp), người dân đã lập đền thờ ông cùng với Phó tướng Nguyễn Tấn Kiều (Đốc binh Kiều). Đây là một trong những di tích nằm trong cụm Di tích quốc gia đặc biệt Gò Tháp (được công nhận năm 2012). Tại nơi ông sinh ra (xã Nhơn Tân, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định), năm 1997, dòng họ đã góp tiền xây dựng đền thờ và hàng năm tổ chức tế lễ. Năm 2007, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam trao tặng cho đền thờ Võ Duy Dương tại xã Nhơn Tân, thị xã An Nhơn một tượng đồng phác họa chân dung ông.
Tại đền thờ ông và Nguyễn Tấn Kiều (Đốc binh Kiều) ở Gò Tháp có câu đối:
Sử sách sáng chói danh Thiên Hộ
Bia miệng lưu truyền tiếng Đốc binh.
Ở đây cũng còn lưu truyền câu ca dao:
Chiều chiều mây giục gió vần
Cảm thương Thiên Hộ xả thân cứu đời!



