Võ Duy Dương (Thiên Hộ Dương) - THỦ LĨNH THIÊN HỘ CHỐNG TÂY GIỮA ĐỒNG THÁP MƯỜI
Giữa thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, lịch sử nước nhà chứng kiến những làn sóng kháng chiến bùng lên mạnh mẽ của các sĩ phu yêu nước. Võ Duy Dương, một người con có thân hình cao lớn, võ nghệ siêu quần của đất võ Bình Định, đã lặn lội vào Nam chiêu mộ nghĩa quân chống giặc. Nhờ có công lao lớn trong việc mộ dân binh lập đồn điền và chống Pháp tại Gia Định, ông được triều đình phong chức Chánh quản cơ, rồi thăng lên Chánh đề đốc. Sau Hòa ước Nhâm Tuất năm 1862, khước từ lệnh bãi binh của triều đình Huế, ông rút về vùng Đồng Tháp Mười hiểm trở để lập căn cứ, tự xưng là Thiên Hộ Dương, quyết tâm theo đuổi cuộc chiến sinh tử bảo vệ giang sơn.
Ký ức hoa lửa lẫy lừng nhất của Võ Duy Dương gắn liền với nghệ thuật chiến tranh du kích dựa vào địa hình sông nước bao la. Tại căn cứ trung tâm Gò Tháp, ông cùng phó tướng Nguyễn Tấn Kiều (Đốc Binh Kiều) đã tổ chức lực lượng nghĩa quân vô cùng chặt chẽ. Họ biến những đầm lầy ngập nước, muỗi rực, đỉa lội thành trận địa bày sẵn để phục kích quân thù. Nghĩa quân của ông sáng tạo ra những lối đánh xuất quỷ nhập thần: dùng thuyền nhỏ len lỏi trong kênh rạch để đánh úp các tàu tuần tra Pháp, hay thả ong vò vẽ, dùng mật cọp dụ rắn độc tấn công các đồn bốt giặc. Suốt nhiều năm ròng rã, từ năm 1864 đến năm 1866, chiến khu Đồng Tháp Mười dưới sự chỉ huy của Thiên Hộ Dương đã trở thành một "bãi tử địa" đáng sợ, bẻ gãy nhiều cuộc hành quân quy mô lớn của thực dân Pháp, giữ vững ngọn lửa kháng chiến độc lập tự phát của nhân dân Nam Bộ.
Trước sự bao vây, phong tỏa ngặt nghèo của giặc Pháp hòng triệt hạ nguồn lương thực và vũ khí, căn cứ Gò Tháp cuối cùng cũng bị thất thủ vào tháng 4 năm 1866. Không chịu khuất phục, Võ Duy Dương bí mật rút quân về vùng Châu Đốc, Hà Tiên nhằm tìm cách vượt biển ra Bình Thuận để liên lạc với triều đình và các lực lượng yêu nước miền Trung nhằm mưu tính đại cuộc lâu dài. Tuy nhiên, chuyến hải trình định mệnh ấy đã trở thành chương cuối bi tráng trong cuộc đời ông. Vào tháng 10 năm 1866, khi chiến thuyền vừa đến cửa biển Thần Mẫu (vùng biển Cần Giờ), ông cùng các thuộc hạ trung kiên đã bị những kẻ phản bội sát hại. Người anh hùng ngã xuống ở tuổi 39 khi chí lớn chưa thành, nhưng hình tượng vị thủ lĩnh "Thiên Hộ Dương" kiên cường giữa đầm lầy Đồng Tháp Mười mãi mãi là một vết son son thắm, lưu danh ngàn đời trong lòng nhân dân Nam Bộ.



