Khác

Võ Duy Dương với Đồng Tháp Mười

Quảng Ngãi11/08/2026xã Thạnh Phú (Xã Thạnh Phú)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngay từ khi thực dân Pháp đặt chân xâm lược lên đất Nam kỳ, chúng đã vấp phải sức kháng cự mãnh liệt của nhân dân ở vùng đất mới này. Hai căn cứ nghĩa quân làm chúng quan ngại nhiều nhất là căn cứ Tân Hòa của Trương Định và căn cứ Đồng Tháp Mười của Võ Duy Dương. 

Hơn 100 năm trôi qua, kể từ lúc căn cứ Đồng Tháp Mười bị đàn áp và Võ Duy Dương qua đời. Để tưởng nhớ vị anh hùng dân tộc mà tên tuổi của Người đã gắn liền với địa danh Đồng Tháp Mười, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Tháp đã chủ trì thực hiện đề tài "Võ Duy Dương với Đồng Tháp Mười".

Đề tài này trước nay đã được nhiều tác giả người Việt kể cả người Pháp đề cập đến. Thế nhưng, ngoài những ghi chép rời rạc, những nhận xét từng mặt cho đến nay vẫn còn thiếu một công trình nghiên cứu toàn bộ về hoạt động kháng chiến chống thực dân Pháp của Võ Duy Dương.

Nhằm đáp ứng yêu cầu đó, Ban Tuyên giáo Tỉnh Đồng Tháp đã thực hiện các chuyến đi thực địa ở huyện An Nhơn (tỉnh Bình Định), ở tất cả các huyện trên địa bàn Đồng Tháp Mười thuộc ba tỉnh Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp và một số nơi khác ở Nam bộ. Sau đó, tiếp tục sưu tầm, đối chiếu, xác minh các tư liệu thành văn ở Thư viện KHXH, Thư viện Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Lưu trữ Trung ương II... Qua đó, đã phát hiện và thu thập được một lượng tư liệu khá phong phú và đa dạng: các hiện vật, các truyện dân gian, tư liệu Hán Nôm (châu bản, gia phả, văn tự chia gia tài...) tư liệu Pháp văn (các báo cáo, sách, báo...) liên quan đến Võ Duy Dương và công cuộc kháng chiến của ông.

Trên cơ sở khai thác nguồn tư liệu thư tịch, kế thừa công trình của người đi trước, kết hợp với các tư liệu thu thập được trong các chuyến đi thực địa, với tinh thần khoa học nghiêm túc, chúng tôi cố gắng trình bày toàn bộ diễn tiến của công cuộc kháng chiến Võ Duy Dương đồng thời cũng đề xuất và lý giải một số vấn đề chủ yếu liên quan đến tiểu sử và công cuộc kháng chiến của ông, với mục đích góp phần vào việc phác họa lại bức tranh phản kháng của nhân dân Nam kỳ nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung trước sự xâm lược của thực dân Pháp.

Nhân đây, chúng tôi xin chân thành cảm ơn Tỉnh ủy, UBND Tỉnh Đồng Tháp, Viện khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh, khoa Sử trường ĐHTH thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm lưu trữ Trung ương II, Thư viện KHXH, Thư viện Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh Bình Định, ủy ban nhân dân huyện An Nhơn, cụ Võ Quế và gia tộc họ Võ tại xã Nhơn Tân (An Nhơn, Bình Định), Ban Tuyên giáo Tỉnh Long An, huyện ủy và Ban Tuyên giáo các huyện Mộc Hóa, Tân Thạnh, Cần Giuộc, Cần Giuộc (tỉnh Long An), Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành, Chợ Gạo (tỉnh Tiền Giang), Cao Lãnh, Tam Nông, Hồng Ngự, Tân Hồng (tỉnh Đồng Tháp), đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho chúng tôi đi lại khai thác tư liệu lưu trữ, nhân chứng vào khảo sát thực địa.

Chúng tôi chân thành cảm ơn Nhà xuất bản Trẻ, Tạp chí Xưa & Nay đã đóng góp nhiều ý kiến quan trọng để chất lượng bản thảo được tốt hơn và tạo điều kiện cho quyển sách được tái bản lần thứ nhất.

Nhóm Biên soạn


LỜI GIỚI THIỆU



Võ Duy Dương với cuộc kháng chiến Đồng Tháp Mười là một công trình biên khảo của Tổ nghiên cứu Lịch sử Dân Tộc (thuộc ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Tháp).

Bằng những cứ liệu khoa học, tư liệu dân gian có kế thừa các công trình nghiên cứu của người đi trước, với phong cách làm việc khoa học nghiêm túc, tập thể tác giả đã cố gắng tái tạo khá chi tiết công cuộc kháng chiến của Võ Duy Dương trong bối cảnh lịch sử Việt Nam ở giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Qua đó, tập thể tác giả đưa ra một số phát hiện mới về quê hương, dòng dõi, năm sanh, năm mất, cái chết của  người anh hùng dân tộc mà tên tuổi đã gắn liền với địa danh Đồng Tháp Mười; đồng thời các vấn đề: mối quan hệ giữa Võ Duy Dương với triều đình Huế, thái độ của triều đình đối với kẻ xâm lược... cũng được đề cập đền với luận cứ đầy tính thuyết phục. Tất nhiên, thuận lợi của người đi sau là được sống và đi lại trong một đất nước thống nhất, độc lập và hơn nữa đang chuyển mình đổi mới, nên nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh của diễn biến lịch sử thời đó được giải bày một cách khách quan để người đọc có thể hiểu được tình cảnh của nước ta trong buổi đầu chống thực dân Pháp xâm lược.

Công trình "Võ Duy Dương với cuộc kháng chiến Đồng Tháp Mười" đã được hội đồng nghiệm thu với sự tham gia của nhiều giáo sư, nhà nghiên cứu của Viện KHXH, trường ĐHTH thành phố Hồ Chí Minh, Ban Tuyên giáo một số tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long- đánh giá cao...


Bối cảnh xã hội Việt Nam và nét đặc trưng của Nam kỳ trước khi thực dân Pháp xâm lược


Trong quá trình thực hiện chủ trương bành trướng thuộc địa để thỏa mãn yêu cầu phát triển chủ nghĩa tư bản, thực dân Pháp đã chú ý đến vùng Đông Nam Á mà trong đó Việt Nam là một mục tiêu không thể bỏ qua được, do vị trí và tiềm năng kinh tế của nó.

Qua một số cố đạo trong Hội truyền giáo hải ngoại, thực dân Pháp ngày càng tập trung nhiều lượng thông tin về Việt Nam làm cơ sở cho họ đi đến quyết định xâm lược nước ta. Hơn thế nữa, còn có một vài cố đạo như Pellerin, Retord và nhứt là Legrand de la Liraye (cố Trường) chẳng những cố thuyết phục Pháp hoàng dùng võ lực để thiết lập một vùng nhượng địa ở Việt Nam, mà còn trực tiếp can thiệp vào nội tình nước ta bằng cách tài trợ, xúi giục một vài phần tử phản động phiêu lưu nổi dậy chống lại triều đình.

Tìm hiểu thực trạng xã hội Việt Nam nói chung, Nam kỳ nói riêng là góp phần lý giải nguyên nhân thúc giục thực dân Pháp xâm lược Việt Nam; đồng thời cho thấy sức đề kháng của nhân dân ta và lý do thất bại của cuộc đề kháng đó trước bão táp của chủ nghĩa tư bản Pháp.

1. Bối cảnh xã hội Việt Nam trước khi Pháp xâm lược

Một điều không ai có thể phản bác được là hơn nửa thế kỷ (1802-1859) trị vì, vua quan nhà Nguyễn đã để lại cho dân tộc Việt Nam một đất nước suy nhược, một chánh quyền phong kiến mục ruỗng, một xã hội đầy rẫy loạn lạc bạo động và cơ cực lầm than.

Chỉ với chừng ấy thời gian mà vua quan nhà Nguyễn đã phải chứng kiến và đàn áp trên dưới 450 cuộc nổi dậy lớn nhỏ.
Dưới triều Gia Long (1802-1819) có tất cả 73 cuộc khởi nghĩa, tiêu biểu là cuộc nổi dậy của Thủ lãnh Trấn ở Thanh Hóa (1805), Cao Văn Dung ở Hải Dương (1805), Cả Tổng và Nguyễn Trọng Phan ở Hải Dương (1807)..

Triều Minh Mạng (1820-1840), chỉ trong 20 năm trị vì, Minh Mạng phải đối phó với con số vụ nổi dậy kỷ lục, 234 vụ; lớn nhứt là các cuộc nổi dậy của Phan Bá Vành ở Nam Định (1821), Lý Khai Bá ở Hưng Yên (1823) Lê Duy Lương ở Ninh Bình, Thanh Hóa (1833), Lê Văn Khôi ở Gia Định (1833), Nông Văn Vân ở Tuyên Quang (1836).. .

Triều Thiệu Trị (1841-1847) với 7 năm cai trị đã có 5 cuộc nổi dậy, tiêu biểu là cuộc nổi dậy của Dinh Tuân ở Tây Ninh (1841); Nguyễn Vi và Lâm Sum (Xâm) ở Trà Vinh (1841) Nguyễn Văn Nhàn ở Sơn Tây (1844), Nguyễn Hữu Chính ở Ninh Thái (1847).

Triều Tự Đức, chỉ kể từ lúc ông lên ngôi (1847) đến khi Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ (1862) cũng đã có gần 100 cuộc nổi loạn, đáng kể nhứt là cuộc nổi dậy của Cao Bá Quát - Lê Duy Cự, Nguyễn Văn Thịnh ở Bắc Ninh (1854-1855), Tạ Văn Phụng...

Đó là chưa kể đến các vụ cướp phá của bọn giặc biển; những cuộc nổi dậy lẻ tẻ mà quan lại địa phương không dám báo cáo sợ triều đình khiển trách.

Hầu hết các cuộc nổi dậy đều bị đàn áp, nhưng các cuộc nổi dậy đó chẳng những không ngừng làm cho chế độ phong kiến nhà Nguyễn ngày một suy yếu, đất nước ngày một điêu tàn, kinh tế ngày một sa sút mà còn phản ánh sự mất lòng dân ngày một gia tăng đối với triều đình. Triều đình không hề có chủ trương thay đổi chính sách mà chỉ biết tập trung vũ lực để trấn áp.

Xây dựng trên cơ chế phong kiến quan liêu, bảo thủ lạc hậu, rập khuôn từ khuôn mẫu của Trung Quốc, xã hội Việt Nam dưới triều các vua Nguyễn là một xã hội phong kiến điển hình châu Á với các đặc trưng mà trong đó mức độ lầm than cơ cực trong đởi sống của tầng lớp bị trị là nét nổi bật nhứt. 

Vua quan nhà Nguyễn bám chặt vào ý thức hệ phong kiến, dùng nó làm vũ khí bảo vệ địa vị xã hội của mình; đã khước từ, bác bỏ mọi đề án canh tân cải cách. Thái độ này đã kìm hãm sức vươn lên của dân tộc, dìm đất nước vào vòng nghèo nàn lạc hậu.


Kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, nhân dân mà đại bộ phận là nông dân, nhưng ruộng đất lại tập trung vào tay quan lại, địa chủ. Người nông dân đầu tắt mặt tối trên mảnh ruộng thuê, nhưng vẫn không đủ cái ăn cái mặc. Nào sưu, nào thuế, nào phu phen tạp dịch... nào hạn hán lụt lội; người nông dân không thể sống nổi, phải bỏ làng mạc phiêu tán xứ khác kiếm ăn. 

"Dân tình buồn bực
Nưa sợ nửa lo.
Vay mượn nhà giàu không cho.
Cầm tiền mua thì không bán (...).
Vợ con thôi nheo nhóc.
Chồng lại phải phu phen.
Muốn vạch cả trời lên
Kêu gào cho hả dạ.
Cơm thời nỏ (không) có.
Rau cháo cũng không (...)
Còn bộ xương sống 
Vơ vất đi ăn mày.
Rồi xó chợ lùm cây.
Quạ kêu vang bốn phía.
Xác đầy nghĩa địa
Thây thối bên cầu.
Trời ảm đạm u sầu
Cảnh hoang tàn đói rét
Dân nghèo cùng kiệt
Kẻ lưu lạc tha phương
Người chết chợ chết đường.
Trừ bọn lòng lang dạ thú không thương 
Ai ai thấy nỏ đau lòng xót dạ
Sẵn bút đây ta tả
Đế ghi lại vài câu.
Cho ngàn vạn năm sau.
Biết cảnh tình cơ cực
Là cái đời Tự Đức

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Võ Duy Dương với Đồng Tháp Mười | Câu chuyện thời hoa lửa