Khác

Võ Hoành

Ông Võ Hoành hiệu là Ngọc Tiêu, sinh năm 1873 tại làng Thanh Liệt, thuộc huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay là xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội).

01/03/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ông là người nhiệt tình yêu nước, coi thường lợi ích cá nhân, từ bỏ cả khoa cử, tham gia các phong trào yêu nước vào đầu thế kỷ XX như Đông Du, Duy Tân. Năm 1907, ông cùng một số nhà yêu nước như Nguyễn Quyên, Lương Văn Can và một số vị tâm huyết khác thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục, phòng theo trường Khánh Ứng Nghĩa Thục ở Nhật để truyền bá tư tường Duy Tân. Trường đồng tại số 3, phố Hàng Đào, Hà Nội (nhà của Lương Văn Can). Trường không thu học phí mà còn cấp phát tài liệu học tập và giấy, việt cho học sinh. Để có đủ chi phí cho trường hoạt động, ông Vô Hoành được giao nhiệm vụ lạc quyền, vận động sự tài trợ của các nhà hảo tâm. Trường được sự ủng hộ của đông đảo đồng bào yêu nước, bằng tiền bạc, sách vở, giày, việt hoặc cho con em đi học và số học sinh lên đến non một ngàn. Hoạt động của trường trở thành phong trào yêu nước sôi nổi. Do đó, chưa đây một năm hoạt động, trường bị đóng cửa, các yêu nhân của trường đều bị thực dân Pháp bắt và kết án đày đi Côn Đảo vào năm 1909, trong đó có Vô Hoành, Nguyễn Quyền, Lương Văn Can...

Năm 1913, các ông được thả ra, song bị đưa vào Nam an trí, mỗi người cư ngụ một nơi. Lương Văn Can ở Nam Vang, Nguyễn Quyên ở Bến Tre, còn Vô Hoành thì chỉ định cư trú 6 Sa Đéc.

Ông mang gia đình vào làng Tân Quy Đông. tự sinh sông bằng nghẻ coi mạch hốt thuộc và dạy chữ Nho, từ chối nhận trợ cấp 10 đồng mỗi tháng của chính quyền Pháp.

Mặc dù việc đi lại, giao tiếp của ông nhất nhất đều có sự giám sát của bọn lính kín, nhưng ông vẫn kín đáo vượt qua, tiếp tục liên hệ với nhiều nhà yêu nước như Nguyễn Sinh Sắc, Nguyễn Quang Diêu, Lê Văn Đáng. Với tỉnh khảng khái, khí phách ngang tàng, cương trực, không hề khuất phục chính quyền thực dân và đám tay sai làm cho tiếng tăm của ông ngày một vang xa. Chính vì thẻ, số lượng học trò của ông ngày một đông, nhiều gia đình ở tận Bến Tre. Long Xuyên, Cao Lãnh... vẫn gởi con đến thọ giáo.

Cuộc sống kinh tê có phần khá giả, một phần nhờ bà vợ và con gái tảo tần buôn bán, nên ông tạo được một sở ruộng ở Ba Thê, vừa làm cơ sở kinh doanh, vừa làm nơi cưu mang, tá túc, tài trợ cho những người yêu nước náu thân trong cơn nguy biển.

Ông thường hay tỏ ra bực dọc, phẫn uất, chồng đồi ra mặt chính quyền thực dân ở địa phương. Ông không đóng thuê thân, nhà ông không chịu treo cờ tam tài (cò Pháp) trong ngày Quốc khánh Pháp (14-7). Ông có bài thơ bày tỏ tâm sự chân năn, ngao ngân thời cuộc:

Ngạo ngăn lòng tôi tôi lại mai, Lòng tối, tôi biết giải cùng ai?

Ngàn năm cô quốc hơn chưa tỉnh, Hai chữ đồng tâm nét cùng phai Mài lệ chép thơ phơi trước mắt, Coi tiền như mạng bỏ ngoài tại Thôi thôi biết nói chỉ cho hết!

Cũng nói cùng thêm nổi thở dài.

Nhưng đó là cái dáng bên ngoài, che đậy bên trong cả một bầu nhiệt tình yêu nước. Vào những năm 1940, mặc dù tuổi đã cao, nhưng ông vẫn còn tráng kiện, quắc thước, hăng say hoạt động bí mật. Cách mạng Tháng Tám 1945 bùng nổ, chung quanh ông đã có một số thanh niên, học trò tin cần cùng ông tham gia khởi nghĩa. Ông giao số thanh niên này cho bà Trần Thị Nhượng (cô giáo Ngài), người lãnh đạo cuộc cướp chính quyền tại Sa Đéc.

Thực dân Pháp tải chiếm Sa Đéc, ông theo lực lượng cách mạng rút vào Đồng Tháp Mười, tiếp tục cuộc kháng chiến lâu dài. Do tuổi già, ông qua đời vào 12/1946 và được an táng ở làng Mỹ Hội (Cao Lãnh), được cải táng về Nghĩa trang Liệt sỹ tỉnh Đồng Tháp.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn