Người có công giúp đỡ cách mạng

Võ Nguyên Giáp (16)

Võ Nguyên Giáp

Thái Nguyên24/05/2026Nguyễn Minh Tuấn (Trường Đại học Y Dược)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

“ TUỔI HAI MƯƠI: KHI HỌ CẦM SÚNG, KHI TA CẦM ƯỚC MƠ ”

Một buổi sáng mùa thu Hà Nội, dòng người lặng lẽ xếp hàng dài trước ngôi nhà số 30 Hoàng Diệu. không ồn ào, không phô trương, chỉ có những ánh mắt đỏ hoe và những bàn tay nắm chặt. Họ đến để tiễn biệt một con người đã trở thành huyền thoại – Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Sự ra đi của ông không chỉ là mất mát của một gia đình, mà là nỗi tiếc thương của cả một dân tộc.

Chúng tôi sinh ra khi đất nước đã yên tiếng sung. Tuổi trẻ của chúng tôi gắn liền với giải đường đại học, với những buổi chuyện trò đêm muộn, với mạng xã hội và những dự định tương lai đầy khao khát. Chúng tôi lo lắng, áp lực với những điểm số khô khan, vì công việc sau này hay một tương lai đầy mong đợi phía trước, với những áp lực phải “thành công”. Những tuổi trẻ của võ Nguyên Giáp lại thật khác, đó là mong muốn giành lại hòa bình, độc lập cho dân tộc. Khi chúng tôi còn đang băn khoăn trong chính môi trường học tập về việc chọn ngành, chọn cách cống hiến, thì những người trẻ năm xưa đã sẵn sàng gác lại ước mơ, rời vòng tay yêu thương của gia đình, khoác trên mình màu áo lính ra chiến trường. Tuổi trẻ của Võ Nguyên Giáp cũng vậy, ở tuổi hai mươi – độ tuổi đẹp nhất đời người, ông đã chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, toàn dân tộc chìm trong xiềng xích. Bởi lẽ đó, trong ông đã len lỏi ngọn lửa cách mạng, một nỗi niềm giành lại hòa bình độc lập cho dân tộc!

Ông sinh năm 1911 tại làng An Xá, mảnh đất nghèo của Quảng Bình – nơi gió lào khắc nghiệt nhưng con người lại bền bỉ lạ thường. Tuổi thơ ông không êm đềm, cha ông bị thực dân Pháp bắt giam vì tham gia phong trào yêu nước, cậu bé Võ Nguyên Giáp sớm hiểu thế nào là mất mát, nỗi đau ấy không biến ông thành người cay đắng, mà biến thành một ngọn lửa âm ỉ đã gieo trong Võ Nguyên Giáp một câu hỏi đầy day dứt: Tại sao dân tộc mình phải chịu cảnh này? Ngay từ rất sớm, ông say mê học tập, ông tin rằng muốn thay đổi vận mệnh dân tộc, trước hết phải hiểu lịch sử của nó. Có lẽ chính vì vậy mà ông chọn nghề dạy học, một thầy giáo dạy sử Trường Thăng Long Hà Nội – giảng cho học trò về các cuộc cách mạng, về những dân tộc đã giành lại độc lập bằng ý chí và trí tuệ. Không ai biết người thầy ấy đã chuẩn bị cho cuộc các mạng của chính dân tộc mình.

Trong hành trình tìm ra con đường giải phóng dân tộc đầy gian khổ có một khoảnh khắc đã thay đổi hoàn toàn con đường của ông, đó là cuộc gặp gỡ định mệnh của Võ Nguyên Giáp với Người – Hồ Chí Minh, đó không chỉ là cuộc gặp gỡ nói chuyện đơn thuần, mà đó là sự gặp gỡ của lý tưởng và niềm tin. Người đã thấy ở ông một điều gì đó thật khác lạ và ông cũng nhìn thấy ở người một con đường. Chính Bác Hồ đã giao cho ông nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang dù ông chưa từng học qua một lớp quân sự chính quy nào. Tôi tự hỏi bản thân: Phải tin tưởng đến mức nào, Người mới trao vận mệnh của một đội quân cho một người thanh niên trẻ tuổi như vậy? Và phải can đảm đến mức nào ông mới dám nhận trách nhiệm to lớn đến thế? Ở tuổi hai mươi, một tuổi đời còn quá trẻ như thế, liệu bảo thân tôi có dám đối mặt, đủ bình tĩnh mà hô to: “Tôi xin nhận nhiệm vụ!” hay không? Cuộc gặp gỡ ấy đã thay đổi cuộc đời của một con người, từ một người nghiên cứu lịch sử, từ một nhà giáo truyền đạt kiến thức, Võ Nguyên Giáp đã trở thành vị Tổng tư lệnh đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Sự đồng điệu giữa hai thế hệ: một vị lãnh tụ tin vào tuổi trẻ và một người trẻ dám gánh lấy vận mệnh dân tộc. Trong thời đại của tôi, chúng tôi hay nói về “cơ hội” nhưng thời của hộ, đó là “sứ mệnh”. Nếu không có cuộc gặp gỡ ấy thì lịch sử chắc cũng đã rẽ sang một hướng khác, khoảnh khắc ấy đã đặt nền móng cho những chiến thắng sau này – từ núi rừng Việt Bắc đến chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử!

Năm 1954, giữa lòng chảo lửa của Chiến dịch Điện Biên Phủ, ông đứng trước một quyết định mà có lẽ cả đời không thể quên. Kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” đã được chuẩn bị kỹ lưỡng. Pháo đã kéo vào trận địa. Bộ đội đã sẵn sàng, thời gian, áp lực, niềm tin của cấp trên… tất cả đang dồn lên vai ông, chỉ cần ra lệnh tất cả sẵn sàng nhưng ông không vội. Trong những đêm rừng lạnh buốt, ông trăn trở, không phải vì sợ thất bại cho riêng mình, mà vì phía sau mỗi mệnh lệnh là sinh mạng của những người lính còn rất trẻ - có người mới mười tám, đôi mươi, họ cũng có mẹ chờ, có người yêu đợi, có ước mơ còn dang dở. Tôi nghĩ, để dừng lại giữa lúc mọi thứ đã sẵn sàng tiến công, cần một sự dũng cảm lớn hơn cả xông lên phía trước và ông đã chọn dừng. Quyết định chuyển sang “đánh chắc, tiến chắc” không chỉ là thay đổi chiến thuật, đó là sự lựa chọn của một người tướng đặt trái tim mình ngang với từng chiến sĩ. Ông chấp nhận chịu mọi trách nhiệm, chấp nhận cả nguy cơ bị hiểu lầm, chấp nhận đánh đổi danh tiếng cá nhân chỉ để giảm đi những cái chết không cần thiết. Khi chiến thắng vang dội khắp năm châu, làm chấn động địa cầu, khi thế giới nhắc đến tên ông với sự khâm phục, ông chỉ nhẹ nhàng nói: “Chiến thắng là của nhân dân”. Chính sự khiêm nhường ấy khiến ông không chỉ là vị tướng tài mà còn là vị tướng trong lòng dân.

Sau chiến tranh,trái tim của vị tướng tài ấy vẫn thao thức, vẫn trăn trở về giáo dục, về bảo vệ môi trường, về tương lai lâu dài của toàn dân tộc. Ông lo rằng nếu không phát triển chí tuệ và đạo đức thì chiến thắng vẻ vang kia không trọn vẹn. Ông không sống trong hào quang của quá khứ mà sống vì tương lai ngày mai tươi đẹp hơn. Với tôi được sống trong ánh hào quang ấy chắc tôi sẽ chọn sống suốt đời. Một chiến thắng làm thay đổi vận mệnh cả dân tộc, một cái tên được cả thế giới nhắc đến, một cuộc đời đã đi vào lịch sử. Nếu là tôi ở cái tuổi ấy, tôi sẽ thật tự hào mỗi khi ai hỏi đến chiến công ấy, và cho phép bản thân nghỉ ngơi, bởi “mình đã làm đủ rồi”. Nhưng với Võ Nguyên Giáp thì không, ông vẫn băn khoăn, trăn trở vì thế hệ sau này, về đạo đức lối sống của thế hệ trẻ giữa hòa bình. Đọc những dòng suy nghĩ của ông mà tôi thấy thật xấu hổ. Tôi chợt nhậ ra, chỉ cần môt thành công rất rất nhỏ trong học tập, hay thâm chí một lời khen tôi đã muốn dừng lại để tận hưởng chút nắng nhẹ nhẹ ấy. Nếu một ngày nào đó tôi có một “chiến thắng vẻ vang” cho riêng mình – đạt được ước mơ, thành công trong sự nghiệp, được người khác công nhận – tôi tự hỏi: tôi sẽ chọn cách sống nào? Sống để giữ chặt vinh quang? Hay sống để tiếp tục cống hiến?

Năm 2013, khi Võ Nguyên Giáp trở về với đất mẹ tại Quảng Bình, tôi còn nhỏc chỉ thấy những hàng người dài nối nhau. Nhưng sau này xem lại những thước phim ấy, tôi vẫn thấy tim mình thắt lại. Dòng người kéo dài hàng cây số, không biểu ngữ ồn ào, không tiếng hô khẩu hiệu, chỉ còn lại sự lặng im, người ta đứng chờ hàng giờ dưới nắng, có cụ già chống gậy, lưng đã còng nhưng vẫn cố đi, có những em bé được bế trên tay, chưa hiểu hết lịch sử nhưng vẫn được cha mẹ đưa đi tiễn biệt, có những bạn trẻ bằng tuổi tôi bây giờ, mắt đỏ hoe mà không nói nên lời. Không ai bảo ai phải đến nhưng ai cũng muốn đến. Tôi nghĩ, chỉ khi một con người sống đủ lớn trong trái tim nhân dân, thì ngày họ ra đi mới trở thành một ngày cả dân tộc lặng lại. Ông không chỉ là một vị tướng, ông là ký ức của một thời khói lửa, là niềm kiêu hãnh khi nhắc đến hai chữ “Việt Nam”, là minh chứng rằng người Việt nhỏ bé nhưng không bao giờ khuất phục. Điều khiến tôi xúc động nhất là: rất nhiều người khóc, dù chưa từng một lần gặp ông ngoài đời. Tại sao người ta lại khóc cho một người mình chưa từng nói chuyện? Vì họ cảm nhận được rằng nhờ những con người như ông, họ mới có một tuổi trẻ bình yên hôm nay. Tôi tưởng tượng nếu một ngày mình đạt được một chiến thắng lớn lao nào đó – liệu có ai đứng lặng đi vì mình như thế? Liệu sự ra đi của mình có để lại trong lòng người khác một khoảng trống? Có lẽ không phải vì chiến thắng mà người ta tiễn đưa ông đông như vậy. Mà vì cách ông sống sau chiến thắng, một đời thanh bạch, một đời khiêm nhường, một đời đặt Tổ quốc lên trên bản thân. Giữa biển người hôm ấy, tôi không thấy một vị tướng đang được tiễn đưa, tôi thấy một phần lịch sử đang khép lại và tôi hiểu rằng: vĩ đại không phải là khi cả thế giới biết đến tên mình, mà là khi nhân dân nhắc đến mình bằng sự biết ơn.

Và rồi một ngày, khi chúng tôi đứng trước tượng đài của Võ Nguyên Giáp, giữa bầu trời bình yên không còn khói lửa, chúng tôi chợt hiểu ra một điều giản dị mà sâu sắc: Tuổi hai mươi của ông là những đêm không ngủ vì đất nước còn tuổi hai mươi của chúng tôi là những đêm thức vì tương lai của chính mình. Họ từng sẵn sàng hy sinh để Tổ quốc được tồn tại còn chúng tôi – nếu không sống tử tế, không sống có trách nhiệm – thì liệu có xứng đáng với sự hy sinh ấy không? Thế hệ trước đã đặt thanh xuân của mình vào chiến hào, thế hệ hôm nay phải đặt thanh xuân của mình vào tri thức, vào sáng tạo, vào lòng tự trọng dân tộc. Bởi sự lãng phí đáng sợ nhất không phải là mất mát trong chiến tranh mà là lãng phí một tuổi trẻ được sống trong hòa bình. Và nếu một ngày nào đó, khi lịch sử nhìn lại thế hệ chúng tôi, hy vọng rằng chúng tôi có thể ngẩng đầu nói: Chúng tôi không cầm súng như ông nhưng chúng tôi đã không sống hoài phí!

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn