Người có công giúp đỡ cách mạng

Võ Nguyên Giáp (5)

Võ Nguyên Giáp

Thái Nguyên21/05/2026Nguyễn Minh Anh (Trường Đại học Y Dược)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Võ Nguyên Giáp (chữ Hán: Ngô Nguyên Gia, phát âm tiếng Việt: [vɔ̌ˀ ŋwīən jǎːp]; 25 tháng 8 năm 1911 – 4 tháng 10 năm 2013) là một vị tướng, nhà cách mạng và chính trị gia cộng sản Việt Nam. Được đánh giá cao như một chiến lược gia quân sự,[1][2] Giáp đã dẫn dắt các lực lượng quân sự cộng sản Việt Nam giành chiến thắng trong các cuộc chiến tranh Đông Dương kéo dài hàng thập kỷ. Giáp là Tư lệnh quân sự Việt Minh và Quân đội Nhân dân từ năm 1941 đến năm 1972, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt Nam) và nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn 1946-1947 và từ năm 1948 đến năm 1980, và phó thủ tướng từ năm 1955 đến năm 1991. Ông là Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sinh ra ở tỉnh Quảng Bình trong một gia đình nông dân giàu có, Giáp bắt đầu tham gia hoạt động chính trị chống thực dân vào năm 1925. Các nguồn tin mâu thuẫn về việc liệu ông có gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương vào năm 1930,[3] hay không cho đến năm 1940. [4] Giáp trở nên nổi tiếng trong Thế chiến II với tư cách là nhà lãnh đạo quân sự của cuộc kháng chiến Việt Minh chống lại sự chiếm đóng của Nhật Bản,[5] và sau chiến tranh lãnh đạo các lực lượng chống thực dân trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất chống lại người Pháp. Ông đã giành được một chiến thắng quyết định trong trận Điện Biên Phủ năm 1954, kết thúc chiến tranh. [6] Trong Chiến tranh Việt Nam, Giáp chỉ huy QLVNCH chống lại Nam Việt Nam và Hoa Kỳ. Ông Giáp là tư lệnh quân đội trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968 và cuộc Tổng tấn công Phục sinh năm 1972,[7] sau đó ông được Văn Tiến Dũng kế nhiệm, nhưng vẫn là bộ trưởng quốc phòng cho đến khi Hoa Kỳ rút lui và chiến thắng cuối cùng chống lại miền Nam Việt Nam vào năm 1975. [8] Giáp giám sát các chiến dịch cuối cùng của mình trong cuộc xâm lược thành công của Việt Nam vào Campuchia năm 1978[9] và Chiến tranh Trung-Việt năm 1979. [10] Ông từ chức Bộ trưởng Quốc phòng năm 1980 và rời Bộ Chính trị năm 1982. Ông Giáp vẫn ở lại Ủy ban Trung ương và là Phó Thủ tướng cho đến năm 1991, và qua đời năm 2013 ở tuổi 102.

Giáp được coi là một nhà lãnh đạo quân sự vĩ đại. Trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, ông đã biến một nhóm quân nổi dậy vô tổ chức thành một "đội quân bộ binh hạng nhẹ tốt" có mật mã,[11] pháo binh và hậu cần tiên tiến[12] có khả năng thách thức Quân đoàn Viễn chinh Viễn Đông Pháp và Quân đội Quốc gia Việt Nam lớn hơn, hiện đại hóa. [13] Giáp, người trong những năm 1930 đã học luật và làm giáo viên lịch sử, chưa bao giờ được huấn luyện quân sự trước Thế chiến II. [14] Là một nhà hậu cần hiệu quả cao,[13] ông là kiến trúc sư chính của đường mòn Hồ Chí Minh, mạng lưới hậu cần từ Bắc vào Nam Việt Nam, qua các vương quốc Lào và Campuchia, được công nhận là một trong những kỳ tích vĩ đại của kỹ thuật quân sự thế kỷ 20. [15]

Giáp thường được ghi nhận với chiến thắng quân sự của Bắc Việt Nam trước Hoa Kỳ và Nam Việt Nam. [1] Học giả gần đây trích dẫn các nhà lãnh đạo khác nổi bật hơn, với cấp dưới cũ và sau này là đối thủ Dũng và Hoàng Văn Thái sau này có trách nhiệm quân sự trực tiếp hơn. [16] Tuy nhiên, ông đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi QLVNCH thành "một trong những lực lượng chiến đấu cơ giới và vũ khí kết hợp lớn nhất, đáng gờm nhất" có khả năng đánh bại Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH) trong chiến tranh thông thường. [13]

Tiểu sử

Thời thơ ấu

Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25 tháng 8 năm 1911 (hoặc 1912 theo một số nguồn tin[17]) tại tỉnh Quảng Bình, An Nam, Đông Dương thuộc Pháp. [18] Cha và mẹ của Giáp, Võ Quang Nghiêm và Nguyễn Thị Kiên,[19] làm ruộng đất, cho hàng xóm thuê một số và sống một cuộc sống tương đối thoải mái.

Cha của Giáp vừa là một quan chức nhỏ vừa là một người theo chủ nghĩa dân tộc Việt Nam tận tụy, đã tham gia phong trào Cần Vương vào những năm 1880. Ông bị chính quyền thực dân Pháp bắt vì các hoạt động lật đổ vào năm 1919 và chết trong tù vài tuần sau đó. Giáp có hai chị gái và một anh trai, và ngay sau khi cha anh bị giam giữ, một trong những chị gái của anh cũng bị bắt. Mặc dù không bị giam giữ lâu, nhưng sự thiếu thốn của cuộc sống trong tù khiến cô bị bệnh và cô cũng chết vài tuần sau khi được thả. [20]

Giáp được cha dạy ở nhà trước khi đến trường làng. Trí thông minh sớm của ông có nghĩa là ông sớm được chuyển đến trường huyện và vào năm 1924, ở tuổi mười ba, ông rời nhà để theo học Quốc Học (còn được gọi là "Học viện Quốc gia"), một trường trung học do Pháp điều hành ở Huế,[19] nơi ông học số học, lịch sử, địa lý, văn học và khoa học tự nhiên. [21] Ngôi trường này được thành lập bởi một quan chức Công giáo tên là Ngô Đình Kha, và con trai ông, Ngô Đình Diệm cũng theo học. Diệm sau đó trở thành Tổng thống miền Nam Việt Nam (1955–63). Nhiều năm trước đó, chính trường này đã giáo dục một cậu bé khác, Nguyễn Sinh Cung, cũng là con trai của một quan chức. Năm 1943, ông Cung lấy tên là Hồ Chí Minh. [22]

Năm 14 tuổi, Giáp trở thành sứ giả cho Công ty Điện lực Hải Phòng. Ông đã bị đuổi khỏi trường sau hai năm vì tham gia các cuộc biểu tình, và trở về làng của mình một thời gian. Trong thời gian ở đó, ông gia nhập Đảng Cách mạng Tân Việt, một nhóm ngầm được thành lập vào năm 1924, đã giới thiệu ông với chủ nghĩa cộng sản. [23] Ông trở về Huế và tiếp tục các hoạt động chính trị của mình. Ông bị bắt năm 1930 vì tham gia các cuộc biểu tình của sinh viên và thụ án 13 tháng trong bản án hai năm tại Nhà tù Lao Bảo [19] Theo lời kể của chính Giáp, lý do thả ông là thiếu bằng chứng chống lại ông. [24] Ông gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1931[19] và tham gia một số cuộc biểu tình chống lại sự cai trị của Pháp ở Đông Dương cũng như hỗ trợ thành lập Mặt trận Dân chủ năm 1933.

Mặc dù phủ nhận điều đó, Giáp được nhà sử học Cecil B. Currey nói[25] cũng đã dành một thời gian ở Hanoi Lycée Albert Sarraut danh tiếng, nơi giới tinh hoa địa phương được giáo dục để phục vụ chế độ thuộc địa. Ông được cho là học cùng lớp với Phạm Văn Đồng, một Thủ tướng tương lai, người cũng phủ nhận việc học tại Albert Sarraut, và Bảo Đại, Hoàng đế cuối cùng của An Nam. Từ năm 1933 đến năm 1938, Giáp học tại Đại học Đông Dương ở Hà Nội[19][26] nơi ông lấy bằng cử nhân luật với chuyên ngành kinh tế chính trị.

Hoạt động chính trị

Khi còn là sinh viên, Giáp đã ở với Giáo sư Đặng Thái Minh,[27] con gái của ông, Nguyễn Thị Minh Giang (còn được gọi là Nguyễn Thị Quang Thái [vi]; 1915–1944),[28][29] ông gặp lần đầu tiên tại trường ở Huế. Cô cũng đã học chủ nghĩa dân tộc từ cha mình và đã tham gia các hoạt động cách mạng mà Giáp tham gia. Vào tháng 6 năm 1938 (hoặc, theo một số nguồn tin [nêu rõ], tháng 4 năm 1939) họ kết hôn và vào tháng 5 năm 1939 họ có một cô con gái, Hồng Anh (Hồng hoàng hoa). [28][30] Các hoạt động chính trị bận rộn của Giáp đã ảnh hưởng đến việc học sau đại học của ông, và ông không vượt qua kỳ thi để lấy Chứng chỉ Luật Hành chính. Do đó, không thể hành nghề luật sư, ông nhận công việc giáo viên lịch sử tại trường Thăng Long [vi] ở Hà Nội. [31]

Ngoài việc giảng dạy ở trường, Giáp còn bận rộn sản xuất và viết bài cho Tiếng Dân do Huỳnh Thúc Kháng sáng lập và nhiều tờ báo cách mạng khác, đồng thời tích cực tham gia vào các phong trào cách mạng khác nhau. Trong suốt thời gian đó, Giáp là một độc giả tận tụy về lịch sử và triết học quân sự, tôn kính Tôn Tử. [32] Ông cũng đã thực hiện một nghiên cứu đặc biệt về tướng lĩnh của Napoléon, và rất ngưỡng mộ Bảy Trụ cột Trí tuệ của T. E. Lawrence, học hỏi từ đó những ví dụ thực tế về cách áp dụng lực lượng quân sự tối thiểu để đạt hiệu quả tối đa. [33] Ông cũng đọc và bị ảnh hưởng bởi các nhân vật lịch sử bao gồm Carl von Clausewitz,[34] George Washington và Vladimir Lenin. [35] Trong những năm Mặt trận Nhân dân ở Pháp, ông thành lập Hồn Trẻ tập mới,[28] một tờ báo xã hội chủ nghĩa ngầm. Ông cũng thành lập tờ báo tiếng Pháp Le Travail (mà Phạm Văn Đồng cũng làm việc).

Sau khi ký kết Hiệp ước Molotov-Ribbentrop, chính quyền Pháp đã đặt Đảng Cộng sản Đông Dương ra ngoài vòng pháp luật. Các nhà lãnh đạo của nó quyết định rằng Giáp nên rời Việt Nam và đi lưu vong ở Trung Quốc. Ngày 3 tháng 5 năm 1940, ông nói lời tạm biệt với vợ, rời Hà Nội và vượt biên giới vào Trung Quốc. Vợ của Giaáp đến nhà gia đình ở Vinh, nơi bà bị bắt, bị kết án mười lăm năm tù giam và bị giam giữ tại Nhà tù Trung ương Hỏa Lò, Hà Nội. [36] Tại Trung Quốc, Giáp gia nhập Hồ Chí Minh, khi đó là cố vấn cho Quân đội Giải phóng Nhân dân. Giáp lấy bí danh Dương Hoài Nam, học nói và viết tiếng Trung, và nghiên cứu chiến lược và chiến thuật của Đảng Cộng sản Trung Quốc. [37]

Tháng 9 năm 1940, Vichy Pháp đồng ý Nhật Bản chiếm đóng Việt Nam, để "bảo vệ" Đông Dương. Tháng 5 năm 1941, Đại hội lần thứ tám của Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định thành lập Việt Minh; Giáp chịu trách nhiệm thiết lập một mạng lưới tình báo và tổ chức các căn cứ chính trị ở phía bắc xa xôi của đất nước. Để bắt đầu công tác tuyên truyền trong nhân dân, một tờ báo có tên Việt Nam Độc Lập đã được xuất bản. Giáp đã viết nhiều bài báo cho nó, và nhiều lần bị Hồ Chí Minh chỉ trích vì phong cách viết quá dài dòng của ông. [38]

Sự nghiệp quân sự

Võ Nguyên Giáp và Hồ Chí Minh năm 1945

Năm 1942, Giáp và khoảng bốn mươi người quay trở lại Việt Nam và định cư trong các hang động hẻo lánh gần làng Vũ Nhãi. Nhóm này và các nhóm nhỏ tương tự ở vùng núi là cơ sở của Việt Minh, cánh vũ trang của Liên đoàn Độc lập Việt Nam. Người Nùng địa phương nói rất ít tiếng Việt, vì vậy Giáp và các đồng nghiệp của ông phải học phương ngữ địa phương và vẽ tranh để giao tiếp. Khi các đội tuần tra an ninh của Vichy đến gần, họ sẽ ẩn mình trong một hang động dưới thác nước, hoặc đôi khi, trong vùng đất của người Mẫn Trang. [39]

Trong vài năm tiếp theo, ông và các đồng chí của mình làm việc đều đặn để xây dựng một lực lượng quân sự nhỏ và thuyết phục người dân địa phương tham gia vào sự nghiệp cộng sản. Đến cuối năm 1943, hàng trăm người đàn ông và phụ nữ đã gia nhập Việt Minh. [40] Vào mùa hè năm 1943, Giáp được biết rằng vợ ông đã bị lính canh đánh chết trong nhà tù trung tâm ở Hà Nội. Em gái cô đã bị chém. [41]

Tháng 9 năm 1944, Hội nghị Quân sự Đảng Cách mạng lần thứ nhất được tổ chức và đã đồng ý rằng đã đến lúc đưa cuộc đấu tranh quân sự tiến lên một giai đoạn mới. Việc thành lập quân đội Giải phóng Việt Nam được tuyên bố, với Giáp là chỉ huy. Hồ Chí Minh chỉ đạo ông thành lập Lữ đoàn Tuyên giáo vũ trang và Lữ đoàn đầu tiên, gồm ba mươi mốt nam và ba nữ, được thành lập vào tháng 12 năm 1944. Được đặt tên là Trung đội Trần Hưng Đạo theo tên người anh hùng vĩ đại của Việt Nam, nó được trang bị hai khẩu súng lục ổ quay, mười bảy khẩu súng trường, một súng máy hạng nhẹ và mười bốn viên đá lửa nạp đạn nòng có từ thời Chiến tranh Nga-Nhật. [42]

Hồ Chí Minh quyết định rằng vì mục đích tuyên truyền, Đơn vị Tuyên giáo Vũ trang phải giành được một chiến thắng quân sự trong vòng một tháng sau khi được thành lập, vì vậy vào ngày 25 tháng 12 năm 1944, Giáp đã dẫn đầu các cuộc tấn công thành công vào các tiền đồn của Pháp trong các trận Khải Phát và Na Ngân. Hai trung úy Pháp đã bị giết và những người lính Việt Nam ở các tiền đồn đầu hàng. Những kẻ tấn công Việt Minh không bị thương vong. Vài tuần sau, Giáp bị thương ở chân khi nhóm của ông tấn công một tiền đồn khác ở Đồng Mục. [43]

Trong nửa đầu năm 1945, vị thế quân sự của Giáp được củng cố khi vị thế chính trị của Pháp và Nhật Bản suy yếu. Ngày 9 tháng 3, Nhật Bản lật đổ chế độ Pháp trên danh nghĩa và đặt hoàng đế Bảo Đại làm người đứng đầu một nhà nước bù nhìn, Đế quốc Việt Nam.

Đến tháng Tư, Việt Minh đã có gần năm ngàn thành viên, và có thể tự tin tấn công các đồn của Nhật Bản. Từ tháng 5 đến tháng 8 năm 1945, Hoa Kỳ, muốn hỗ trợ các lực lượng chống Nhật ở lục địa châu Á, đã tích cực tiếp tế và huấn luyện cho Giáp và Việt Minh. Thiếu tá Archimedes Patti, phụ trách đơn vị được gọi là 'Đội hươu', đã dạy Việt Minh sử dụng súng phun lửa, súng phóng lựu và súng máy. [44]

Trong một tháng, họ đã thành công trong việc huấn luyện khoảng 200 nhà lãnh đạo tương lai được lựa chọn cẩn thận của quân đội mà họ sẽ chống lại vài thập kỷ sau đó. Trở nên mạnh mẽ hơn, lực lượng của Giáp chiếm được nhiều lãnh thổ hơn và chiếm được nhiều thị trấn hơn cho đến khi Hoàng đế Nhật Bản tuyên bố đầu hàng vô điều kiện vào ngày 15 tháng 8 trước đồng minh. [45]

Ngày 28 tháng 8 năm 1945, Giáp dẫn quân vào Hà Nội, và ngày 2 tháng 9, Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông thành lập một chính phủ mới, với Giáp là Bộ trưởng Nội vụ. [46] Tổng thống Harry S. Truman, Thủ tướng Winston Churchill và Thủ tướng Joseph Stalin đã quyết định tương lai của Việt Nam thời hậu chiến tại một cuộc họp thượng đỉnh ở Potsdam. Họ đồng ý rằng đất nước sẽ bị chiếm đóng tạm thời để đưa quân Nhật ra ngoài; nửa phía bắc sẽ nằm dưới sự kiểm soát của Trung Hoa Dân Quốc và nửa phía nam dưới sự kiểm soát của người Anh. [47]

Ngày 9 tháng 9, lực lượng Trung Hoa Dân Quốc vượt qua biên giới và nhanh chóng kiểm soát miền bắc, trong khi ngày 12 tháng 9, Quân đội Ấn Độ thuộc Anh đến Sài Gòn. [48] Đến tháng 10, các lực lượng Pháp đã bắt đầu đến Việt Nam, và người Anh trao lại quyền kiểm soát miền nam cho họ và vào tháng 5 năm 1946, một thỏa thuận giữa Pháp và Trung Quốc cho thấy Trung Quốc rút khỏi miền bắc và người Pháp cũng tiến vào đó. Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp theo đuổi các cuộc đàm phán kéo dài với người Pháp, tìm cách tránh một cuộc chiến tranh toàn diện để củng cố nền độc lập của họ. Giáp dẫn đầu phái đoàn Việt Nam tại hội nghị Đà Lạt vào tháng 4 năm 1946, nhưng không mang lại kết quả gì,[49] và trở về Hà Nội, ông được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Quốc phòng. Hồ Chí Minh khởi hành đến Pháp vào ngày 31 tháng 5, để đàm phán với người Pháp tại Fontainebleau, và ông ở lại Pháp cho đến tháng 11. [50]

Với Hồ ở Pháp, Giáp phụ trách chính phủ ở Hà Nội một cách hiệu quả. Cho đến lúc đó, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cho phép các tờ báo theo chủ nghĩa dân tộc và các tờ báo khác xuất bản, nhưng khi họ bắt đầu tấn công và phỉ báng chính phủ, ông đã đàn áp và đóng cửa tất cả. Ông cũng triển khai lực lượng Việt Minh chống lại quân đội dân tộc chủ nghĩa phi cộng sản ở ngoại ô Hà Nội, và bắt giữ và bỏ tù các nhà lãnh đạo của họ. Trong thời gian này, anh cũng bắt đầu mối quan hệ với một vũ công nổi tiếng và xinh đẹp là Thượng Huyền, và được nhìn thấy trước công chúng với cô tại các hộp đêm. Hành vi này gây ra mối quan tâm nghiêm trọng trong các cấp cao của Đảng vì nó trái với quy tắc đạo đức rất nghiêm ngặt và kiêng kỵ mà tất cả các đảng viên phải tuân thủ. Muốn bảo vệ ông, Hồ Chí Minh đã sắp xếp cho ông gặp một sinh viên tốt nghiệp từ một gia đình nổi tiếng, Đặng Bích Hà [vi] (1928–2024). [51][52]

Họ kết hôn vào tháng 8 năm 1946,[53] và tiếp tục có năm người con. [54]

Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất

Bài chi tiết: Bắc Việt Nam, Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, và Trận Điện Biên Phủ

Sự bế tắc căng thẳng giữa chính phủ Việt Nam và quân chiếm đóng Pháp leo thang đáng kể vào ngày 23 tháng 10 khi chỉ huy Pháp Argenlieu ra lệnh cho tàu tuần dương Suffren bắn phá Hải Phòng để đáp trả các cuộc đụng độ lặp đi lặp lại với lực lượng Việt Nam khi họ cố gắng mang vũ khí và hàng lậu vào cảng. Khoảng sáu nghìn người đã thiệt mạng và mười bốn nghìn người bị thương trong cuộc bắn phá. [55][56] Giáp, với tư cách là chủ tịch trên thực tế khi Hồ Chí Minh vắng mặt, đã cố gắng duy trì một số loại hòa bình nhưng vào thời điểm Hồ trở lại vào tháng Mười một, cả hai bên đều đang ở trong tình trạng chiến tranh. Các cuộc giao tranh cục bộ nổ ra nhiều lần và vào ngày 27 tháng 11, chính phủ của Hồ Chí Minh, kết luận rằng họ không thể giữ Hà Nội chống lại quân Pháp, đã rút lui lên vùng núi phía bắc nơi nó đã đóng quân hai năm trước đó. Ngày 19 tháng 12, chính phủ Việt Nam chính thức tuyên chiến với Pháp và giao tranh nổ ra trên khắp đất nước. [57] Sau thời gian này, thông tin chi tiết về cuộc sống cá nhân của Giáp trở nên khan hiếm hơn nhiều và trong hầu hết các nguồn đều nhấn mạnh vào những thành tựu quân sự của ông và sau đó là công việc chính trị của ông.

Vài năm đầu tiên của cuộc chiến chủ yếu liên quan đến một cuộc kháng chiến cấp thấp, bán thông thường chống lại các lực lượng chiếm đóng của Pháp. Võ Nguyên Giáp lần đầu tiên chứng kiến trận chiến thực sự tại Nha Trang,[58] khi ông đến miền trung nam Việt Nam vào tháng Giêng và tháng Hai năm 1946, để truyền đạt quyết tâm của các nhà lãnh đạo ở Hà Nội chống Pháp. [59] Năm 1947, mặc dù các cuộc tấn công bọc thép, đổ bộ và đổ bộ đầy tham vọng của Pháp đã lao vào vùng núi phía bắc và dọc theo bờ biển An Nam, sự phá hoại và các cuộc đột kích của Việt Minh dọc theo các tuyến liên lạc đã gia tăng đều đặn, và người Pháp đã nhận ra rằng Pháp đã mất thế chủ động quân sự. [60]

Lực lượng Liên minh Pháp bao gồm quân đội thuộc địa từ nhiều vùng của đế chế Pháp cũ (các dân tộc thiểu số Morocco, Algeria, Tunisia, Lào, Campuchia, Việt Nam và Việt Nam), quân đội chuyên nghiệp của Pháp và các đơn vị của Quân đoàn nước ngoài Pháp. Việc sử dụng các tân binh đô thị (tức là tân binh từ chính Pháp) đã bị chính phủ Pháp cấm để ngăn chặn cuộc chiến trở nên không được ưa chuộng hơn ở quê nhà. Nó được gọi là "cuộc chiến bẩn thỉu" (la sale guerre) bởi những người ủng hộ cánh tả ở Pháp và các trí thức (bao gồm cả Jean-Paul Sartre) trong vụ Henri Martin năm 1950. [61][62]

Khi rõ ràng rằng Pháp đang tham gia vào một cuộc chiến kéo dài và cho đến nay không thành công, chính phủ Pháp đã cố gắng đàm phán một thỏa thuận với Việt Minh. Họ đề nghị giúp thành lập một chính phủ quốc gia và hứa rằng cuối cùng họ sẽ trao cho Việt Nam độc lập. [cần dẫn nguồn] Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo khác của Việt Minh đã không tin vào lời nói của người Pháp và tiếp tục chiến tranh.

Võ Nguyên Giáp and Phạm Văn Đồng in Hà Nội, 1945

Dư luận Pháp tiếp tục phản đối chiến tranh. Từ năm 1946 đến năm 1952, nhiều binh sĩ Pháp đã bị giết, bị thương hoặc bị bắt. Ngoài ra, Pháp đang cố gắng xây dựng nền kinh tế của mình sau sự tàn phá của Chiến tranh thế giới thứ hai. Chi phí của cuộc chiến cho đến nay đã gấp đôi những gì họ nhận được từ Hoa Kỳ theo Kế hoạch Marshall.

Cuộc chiến đã kéo dài bảy năm và vẫn chưa có dấu hiệu nào cho thấy một chiến thắng rõ ràng của Pháp. Ngày càng có nhiều người ở Pháp đã đi đến kết luận rằng đất nước của họ không có bất kỳ lý do đạo đức nào để ở Việt Nam,[63] và một bộ phận cánh tả Pháp ủng hộ các mục tiêu của Việt Minh là thành lập một nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Trong khi phát triển mạnh mẽ hơn ở Việt Nam, Việt Minh cũng mở rộng chiến tranh và dụ dỗ người Pháp mở rộng lực lượng của họ đến các vùng sâu vùng xa như Lào. Tháng 12 năm 1953, chỉ huy quân đội Pháp Tướng Henri Navarre thiết lập một tổ hợp phòng thủ tại Ðiện Biên Phủ ở thung lũng Mường Thanh, làm gián đoạn các tuyến tiếp tế của Việt Minh đi qua Lào. Ông phỏng đoán rằng trong một nỗ lực để thiết lập lại tuyến đường, Giáp sẽ buộc phải tổ chức một cuộc tấn công hàng loạt vào Ðiện Biên Phủ, do đó chiến đấu trong một trận chiến thông thường, trong đó Navarre có thể mong đợi sẽ có lợi thế.

Giáp chấp nhận thách thức của Pháp. Trong khi quân Pháp đào bới tiền đồn của họ, Việt Minh cũng đang chuẩn bị chiến trường. Trong khi các cuộc tấn công nghi binh được phát động ở các khu vực khác,[64] Giáp ra lệnh cho người của mình bí mật bố trí pháo binh của họ bằng tay. Bất chấp thông lệ quân sự tiêu chuẩn, ông đã đặt hai mươi bốn khẩu lựu pháo 105 mm của mình trên sườn phía trước của các ngọn núi xung quanh Điện Biên Phủ, trong các vị trí sâu, chủ yếu là đào thủ công để bảo vệ chúng khỏi máy bay Pháp và hỏa lực phản pháo.

Với các khẩu pháo phòng không do Liên Xô cung cấp, Giáp đã có thể hạn chế nghiêm trọng khả năng tiếp tế cho lực lượng đồn trú của người Pháp, buộc họ phải thả tiếp tế không chính xác từ độ cao lớn. Giáp ra lệnh cho người của mình đào một hệ thống chiến hào bao vây quân Pháp. Từ rãnh bên ngoài, các chiến hào và đường hầm khác dần dần được đào vào trong về phía trung tâm. Lúc này Việt Minh đã có thể di chuyển đến gần quân Pháp đang bảo vệ Điện Biên Phủ.

Khi Navarre nhận ra rằng mình bị mắc kẹt, anh ta đã kêu cứu. Hoa Kỳ đã được tiếp cận và một số cố vấn đề nghị sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật chống lại Việt Minh, nhưng điều này không bao giờ được xem xét nghiêm túc. Một đề xuất khác là các cuộc không kích thông thường sẽ đủ để phân tán quân đội của Giáp. Tuy nhiên, Tổng thống Hoa Kỳ Dwight D. Eisenhower đã từ chối can thiệp trừ khi Anh và các đồng minh phương Tây khác đồng ý. Thủ tướng Anh Winston Churchill từ chối, tuyên bố rằng ông muốn chờ kết quả của các cuộc đàm phán hòa bình diễn ra tại Geneva, trước khi tham gia vào việc leo thang chiến tranh.

Ngày 13 tháng 3 năm 1954, Giáp phát động cuộc tấn công của mình. [65] Trong 54 ngày, Việt Minh chiếm hết vị trí này đến vị trí khác, đẩy lùi quân Pháp cho đến khi họ chỉ chiếm được một khu vực nhỏ của Điện Biên Phủ. Đại tá Piroth, chỉ huy pháo binh, tự trách mình về việc phá hủy ưu thế pháo binh của Pháp. Anh ta nói với các sĩ quan đồng nghiệp của mình rằng anh ta đã "hoàn toàn mất danh dự" và tự sát bằng một quả lựu đạn cầm tay. [66] Tướng De Castries, Tư lệnh Pháp tại Điện Biên Phủ, bị bắt sống trong boongke của mình. Người Pháp đầu hàng vào ngày 7 tháng 5. Tổng số thương vong của họ là hơn 2.200 người chết, 5.600 người bị thương và 11.721 người bị bắt làm tù binh. Ngày hôm sau, chính phủ Pháp tuyên bố rằng họ có ý định rút khỏi Việt Nam. [cần dẫn nguồn]

Chiến thắng của Giáp trước người Pháp là một nguồn cảm hứng quan trọng cho các nhà vận động chống thực dân trên khắp thế giới, đặc biệt là ở các thuộc địa của Pháp, và đặc biệt là ở Bắc Phi, đặc biệt là vì nhiều binh sĩ chiến đấu bên phía Pháp ở Đông Dương đến từ Bắc Phi. [67][68]

Những năm giữa hai cuộc chiến

Sau Hiệp định Hòa bình Geneva, Giáp quay trở lại Hà Nội khi chính phủ Bắc Việt tái lập. Ông đã mở rộng và hiện đại hóa quân đội, trang bị lại các hệ thống vũ khí của Liên Xô và Trung Quốc. Ngày 7 tháng 5 năm 1955, ông khánh thành Hải quân Nhân dân Việt Nam và ngày 1 tháng 5 năm 1959, Không quân Nhân dân Việt Nam. [69] Vào cuối những năm 1950, Giáp giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, Phó Thủ tướng và Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng. [70] Về cuộc sống cá nhân, ông cũng có thể chuyển về sống với vợ, người mà ông đã ly thân tám năm trong chiến tranh. Cô đang làm giáo sư lịch sử và khoa học xã hội vào thời điểm đó. [69] Họ cùng nhau nuôi dạy hai con trai và hai con gái. Trong thời gian rảnh rỗi, ông nói trong các cuộc phỏng vấn rằng thỉnh thoảng ông thích chơi piano, cũng như đọc Goethe, Shakespeare và Tolstoy. [70]

Vào cuối những năm 1950, ưu tiên hàng đầu của chính phủ Việt Nam được tái lập là nhanh chóng thiết lập một trật tự kinh tế xã hội chủ nghĩa và sự cai trị của Đảng Cộng sản. Điều này liên quan đến việc tập thể hóa nông nghiệp và quản lý tập trung tất cả các sản xuất kinh tế. [71] Quá trình này không diễn ra suôn sẻ và dẫn đến tình trạng thiếu lương thực và nổi dậy. Tại Hội nghị Trung ương 10 của Đảng Cộng sản, ngày 27-29 tháng 10 năm 1956, Giáp đứng trước các đại biểu và nói:

Cán bộ, trong thực hiện nhiệm vụ chống phong kiến, đã tạo ra những mâu thuẫn trong nhiệm vụ cải cách ruộng đất và Cách mạng, ở một số lĩnh vực coi đó như là những hoạt động riêng biệt. Chúng tôi tấn công bừa bãi tất cả các gia đình sở hữu đất đai. Hàng ngàn người đã bị hành quyết. Chúng tôi nhìn thấy kẻ thù ở khắp mọi nơi và sử dụng bạo lực và khủng bố lan rộng. Ở một số nơi, trong nỗ lực thực hiện cải cách ruộng đất, chúng tôi đã không tôn trọng quyền tự do tôn giáo và quyền thờ phượng. Chúng tôi đã đặt quá nhiều trọng tâm vào nguồn gốc giai cấp hơn là thái độ chính trị. Có những sai lầm nghiêm trọng. [72]

Sự ra đi của người Pháp và sự chia cắt của Việt Nam có nghĩa là chính quyền Hà Nội chỉ kiểm soát phần phía bắc của đất nước. Ở miền Nam Việt Nam vẫn còn vài ngàn du kích, được gọi là Việt Cộng (VC), chiến đấu chống lại chính phủ ở Sài Gòn. Hội nghị toàn thể Đảng năm 1957 đã ra lệnh thay đổi cơ cấu các đơn vị của họ và Giáp được giao trách nhiệm thực hiện và xây dựng sức mạnh của họ để tạo cơ sở vững chắc cho một cuộc khởi nghĩa ở miền Nam. [73] Hội nghị Trung ương năm 1959 quyết định rằng thời điểm leo thang cuộc đấu tranh vũ trang ở miền Nam là thích hợp, và vào tháng 7 năm đó, Giáp ra lệnh mở đường mòn Hồ Chí Minh để cải thiện đường tiếp tế cho các đơn vị Việt Cộng [74]

Chiến tranh Việt Nam

Phần này cần trích dẫn thêm để xác minh. Vui lòng giúp cải thiện bài viết này bằng cách thêm trích dẫn vào các nguồn đáng tin cậy trong phần này. Tài liệu không có nguồn có thể bị thách thức và xóa. (Tháng Mười Hai 2018) (Tìm hiểu cách thức và thời điểm xóa thông báo này)

Bài chi tiết: Chiến tranh Việt Nam

D67 ở thành Hà Nội là trụ sở quân sự của tướng Giáp trong chiến tranh

Giáp vẫn là tổng tư lệnh của QĐND Việt Nam trong suốt cuộc chiến chống lại Nam Việt Nam và các đồng minh của nó, Hoa Kỳ, Nam Triều Tiên, Úc, Thái Lan, New Zealand và Philippines. Ông giám sát việc mở rộng QĐND Việt Nam từ một lực lượng tự vệ nhỏ thành một quân đội thông thường lớn, được các đồng minh cộng sản trang bị một lượng đáng kể vũ khí tương đối tinh vi, mặc dù điều đó thường không sánh được với vũ khí của người Mỹ.

Giáp phản đối việc thực hiện cuộc tấn công Tết Mậu Thân năm 1968, cho rằng việc tập trung vào chiến thuật du kích ở phía nam sẽ hiệu quả hơn. [75] Bằng chứng tốt nhất cho thấy rằng khi rõ ràng là Lê Duẩn và Văn Tiến Dũng sẽ tiến hành nó, ông rời Bắc Việt Nam để điều trị y tế ở Hungary và không trở lại cho đến khi cuộc tấn công bắt đầu. [76] Mặc dù nỗ lực của họ nhằm châm ngòi cho một cuộc tổng nổi dậy chống lại chính quyền miền Nam đã thất bại thảm hại, nhưng đó là một chiến thắng chính trị quan trọng thông qua việc thuyết phục các chính trị gia Mỹ và công chúng rằng cam kết của họ đối với miền Nam Việt Nam không thể là kết thúc mở. Sau đó, ông Giáp lập luận rằng cuộc tấn công Tết Mậu Thân không phải là một "chiến lược quân sự thuần túy" mà là một phần của "chiến lược tổng quát, một chiến lược tổng hợp, đồng thời về quân sự, chính trị và ngoại giao". [77]

Các cuộc đàm phán hòa bình giữa các đại diện từ Hoa Kỳ, Nam Việt Nam, Bắc Việt Nam và Việt Cộng bắt đầu tại Paris vào tháng 1 năm 1969. Tổng thống Richard Nixon, giống như Tổng thống Lyndon B. Johnson trước đó, tin rằng việc rút quân của Mỹ là cần thiết, nhưng bốn năm trôi qua trước khi quân đội Mỹ cuối cùng rời đi.

Vào tháng 10 năm 1972, các nhà đàm phán đã tiến gần đến việc đồng ý một công thức để chấm dứt xung đột. Đề xuất là những người lính Mỹ còn lại sẽ rút khỏi miền Nam Việt Nam để đổi lấy một lệnh ngừng bắn và trả lại các tù binh Mỹ bị Bắc Việt giam giữ. Họ cũng đồng ý rằng các chính phủ ở miền Bắc và miền Nam Việt Nam sẽ tiếp tục nắm quyền, và việc thống nhất sẽ được "thực hiện từng bước thông qua các biện pháp hòa bình". Mặc dù cuộc tấn công Phục sinh năm 1972 của miền Bắc đã bị đánh bại với thương vong cao, đề xuất này không yêu cầu họ phải rời khỏi miền Nam. Do đó, QLVNCH sẽ có thể duy trì quyền kiểm soát lãnh thổ đáng kể ở miền Nam Việt Nam để từ đó phát động các cuộc tấn công trong tương lai. [78]

Trong một nỗ lực gây áp lực lên cả Bắc và Nam Việt Nam trong các cuộc đàm phán, Nixon đã ra lệnh một loạt các cuộc không kích vào Hà Nội và Hải Phòng, có mật danh là Chiến dịch Linebacker II. Chiến dịch kết thúc vào ngày 29 tháng 12 năm 1972, sau 12 ngày với 42 thương vong của Hoa Kỳ và hơn 1.600 người Bắc Việt thiệt mạng. Bắc Việt Nam sau đó đồng ý ký Hiệp định Hòa bình Paris đã được đề xuất vào tháng Mười, mặc dù có thêm các điều kiện thuận lợi cho cả Hoa Kỳ và Bắc Việt Nam. [79] Miền Nam Việt Nam phản đối, nhưng không có lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận nó.

Các nhân viên quân sự cuối cùng của Hoa Kỳ (ngoại trừ các nhân viên của Văn phòng Tùy viên Quốc phòng và Lực lượng An ninh Thủy quân lục chiến của Đại sứ quán Hoa Kỳ) đã hoàn tất việc rút lui vào tháng 3 năm 1973. Bất chấp thỏa thuận, chiến đấu không có hồi kết. Những nỗ lực của miền Nam Việt Nam nhằm giành lại lãnh thổ do cộng sản kiểm soát đã truyền cảm hứng cho các đối thủ của họ thay đổi chiến lược. Các nhà lãnh đạo Cộng sản đã gặp nhau tại Hà Nội vào tháng Ba để tổ chức một loạt các cuộc họp để lên kế hoạch cho một cuộc tấn công lớn chống lại miền Nam. Tháng 6 năm 1973, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Tu chính án Case-Church, cấm bất kỳ sự can thiệp quân sự nào của Hoa Kỳ, và các tuyến đường tiếp tế của QLVNCH có thể hoạt động bình thường mà không sợ ném bom của Hoa Kỳ.

Sự sụp đổ của Sài Gòn

Bài chi tiết: Cuộc tấn công mùa xuân năm 1975sự sụp đổ của Sài Gòn

Quan điểm của phương Tây về thời kỳ này là sau khi Hồ Chí Minh qua đời vào tháng 9 năm 1969, Giáp đã thua trong một cuộc tranh giành quyền lực vào năm 1972 ngay sau cuộc Tổng tấn công Phục sinh thất bại, nơi ông bị Bộ Chính trị đổ lỗi cho sự thất bại của cuộc tấn công. Giáp được triệu hồi về Hà Nội, nơi ông được thay thế làm Tư lệnh Chiến trường của QĐND Việt Nam và từ đó theo dõi các sự kiện tiếp theo từ bên lề, với vinh quang chiến thắng năm 1975 thuộc về Tổng tham mưu trưởng, Tướng Văn Tiến Dũng. Đóng góp của Giáp vào chiến thắng năm 1975 phần lớn bị bỏ qua bởi các tường thuật chính thức của Việt Nam. [80][81]

Cuộc sống sau này

Giáp tại một cuộc họp năm 2008

Ngay sau khi Sài Gòn sụp đổ, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thành lập. Trong chính phủ mới, Giáp được bổ nhiệm làm Phó Thủ tướng vào tháng 7 năm 1976. Tháng 12 năm 1978, ông giám sát thành công Chiến tranh Campuchia-Việt Nam đã lật đổ Khmer Đỏ khỏi quyền lực và chấm dứt nạn diệt chủng Campuchia. Để trả đũa, đồng minh của Campuchia là Trung Quốc đã đáp trả bằng cách xâm lược tỉnh Cao Bằng của Việt Nam vào tháng 1 năm 1979 và một lần nữa Giáp chịu trách nhiệm chung về phản ứng này, khiến Trung Quốc phải rút lui sau một tháng. [82] Cuối cùng ông đã nghỉ hưu tại Bộ Quốc phòng vào năm 1981 và nghỉ hưu từ Bộ Chính trị vào năm 1982. Ông vẫn ở trong Ủy ban Trung ương và Phó Thủ tướng cho đến khi nghỉ hưu vào năm 1991.

Giáp đã viết rất nhiều về lý thuyết và chiến lược quân sự. Các tác phẩm của anh bao gồm Chiến thắng lớn, Nhiệm vụ vĩ đại; Quân đội nhân dân, Chiến tranh nhân dân; Ðiện Biên Phủ; và chúng tôi sẽ chiến thắng. [83]

Năm 1995, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert McNamara đã gặp Giáp để hỏi điều gì đã xảy ra vào ngày 4 tháng 8 năm 1964 trong Sự kiện Vịnh Bắc Bộ lần thứ hai. "Hoàn toàn không có gì", Giáp trả lời. [84] Giáp nói rằng cuộc tấn công vào ngày 4 tháng 8 năm 1964 chỉ là tưởng tượng. [85][86]

Bằng chứng cuối cùng cho thấy không có bất kỳ cuộc tấn công nào của Việt Nam chống lại các tàu chiến Hoa Kỳ vào đêm 4 tháng 8 năm 1964 được cung cấp bởi việc phát hành một phiên bản đã được khử trùng một chút. [87]

Trong một cuộc phỏng vấn năm 1998, William Westmoreland chỉ trích sức mạnh chiến trường của Giáp, nói rằng, "Theo sự thừa nhận của chính ông ấy, vào đầu năm 1969, tôi nghĩ, ông ấy đã mất, cái gì, nửa triệu binh sĩ? Anh ấy đã báo cáo điều này. Bây giờ sự coi thường tính mạng con người như vậy có thể tạo ra một kẻ thù đáng gờm, nhưng nó không tạo nên một thiên tài quân sự. Một chỉ huy Mỹ mất người như vậy sẽ khó kéo dài hơn vài tuần." [88]

Lăng mộ Võ Nguyên Giáp ở tỉnh Quảng Bình

Nhà sử học người Mỹ Derek Frisby chỉ trích quan điểm của Westmoreland, điều mà ông nói phản ánh sự thất bại trong việc hiểu triết lý cốt lõi của Giáp về "chiến tranh cách mạng". Theo Frisby, "Giáp hiểu rằng chiến tranh kéo dài sẽ khiến nhiều người phải trả giá bằng mạng sống nhưng điều đó không phải lúc nào cũng dẫn đến thắng hay thua trong cuộc chiến. Cuối cùng, Giáp đã thắng cuộc mặc dù thua nhiều trận, và chừng nào quân đội còn sống sót để chiến đấu vào một ngày khác, ý tưởng về Việt Nam vẫn sống trong trái tim của những người sẽ ủng hộ nó, và đó là bản chất của 'chiến tranh cách mạng'. [89] Ngoại trưởng Henry Kissinger của Nixon nói: "Chúng tôi đã chiến đấu trong một cuộc chiến tranh quân sự; Các đối thủ của chúng tôi đã chiến đấu một cuộc chiến chính trị. Chúng tôi tìm cách tiêu hao thể chất; đối thủ của chúng ta nhắm vào sự kiệt quệ tâm lý của chúng ta. Trong quá trình này, chúng ta đã đánh mất một trong những châm ngôn chính của chiến tranh du kích: du kích thắng nếu anh ta không thua. Quân đội thông thường thua nếu không thắng. Bắc Việt đã sử dụng lực lượng vũ trang của họ như cách một võ sĩ bò tót sử dụng áo choàng của mình - để giữ cho chúng tôi lao vào những khu vực có tầm quan trọng chính trị bên lề."

So với các nhà lãnh đạo Bắc Việt khác ủng hộ một cuộc tấn công nhanh chóng toàn diện ở miền Nam để mang lại chiến thắng trong một thời gian ngắn như Lê Duẩn, Giáp tương đối thận trọng, và ông tin vào một cuộc đấu tranh quân sự kéo dài hơn, điều này sẽ không tốn kém về nhân lực. Tuy nhiên, ông sẵn sàng dành mạng sống của những người lính của mình với những gì các chỉ huy Mỹ coi là bỏ rơi liều lĩnh, nếu đó là những gì cần thiết để giành chiến thắng trong cuộc chiến. Giáp giải thích với nhà báo người Mỹ Stanley Karnow vào năm 1990:

"Chúng tôi không đủ mạnh để đánh đuổi nửa triệu lính Mỹ, đó không phải là mục tiêu của chúng tôi. Ý định của chúng tôi là phá vỡ ý chí của chính phủ Mỹ để tiếp tục chiến tranh. Westmoreland đã sai lầm khi nghĩ rằng hỏa lực vượt trội của anh ta sẽ nghiền nát chúng tôi. Nếu chúng tôi tập trung vào sự cân bằng lực lượng, chúng tôi sẽ bị đánh bại trong hai giờ. Chúng tôi đang tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân... Vũ khí tinh vi, thiết bị điện tử và tất cả những thứ còn lại của Mỹ cuối cùng đã vô ích. Trong chiến tranh có hai yếu tố - con người và vũ khí. Tuy nhiên, cuối cùng, con người là yếu tố quyết định." [90]

Sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc, Giáp đã viết nhiều về chiến lược quân sự của mình. Đoạn tiếp theo từ một trong những cuốn sách của ông giải thích phương pháp đánh bại một kẻ thù nước ngoài hùng mạnh của ông:

"Chiến tranh giải phóng là một cuộc chiến kéo dài và một cuộc chiến tranh khó khăn, trong đó chúng ta phải dựa chủ yếu vào chính mình - vì chúng ta mạnh về chính trị nhưng yếu về vật chất, trong khi kẻ thù rất yếu về chính trị nhưng mạnh hơn về vật chất."

"Chiến tranh du kích là một phương tiện chiến đấu trong một cuộc chiến tranh cách mạng dựa vào tinh thần anh hùng để chiến thắng vũ khí hiện đại. Đó là phương tiện để người dân của một quốc gia yếu đuối, được trang bị kém có thể đứng lên chống lại một đội quân hung hăng sở hữu trang bị và kỹ thuật tốt hơn."

"Chiến thuật đúng đắn cho một cuộc chiến tranh cách mạng kéo dài là tiến hành chiến tranh du kích, tiến từ chiến tranh du kích sang chiến tranh thông thường và sau đó kết hợp chặt chẽ hai hình thức chiến tranh này; phát triển từ du kích đến cơ động và sau đó là chiến tranh bao vây."

"Tích lũy một ngàn chiến thắng nhỏ để biến thành một thành công lớn." [91]

Năm 2009, Giáp trở thành một nhà phê bình nổi tiếng về khai thác bauxite ở Việt Nam sau kế hoạch của chính phủ mở cửa các khu vực rộng lớn ở Tây Nguyên cho hoạt động này. Giáp ủng hộ một nghiên cứu vào những năm 1980, trong đó các chuyên gia khuyên chống lại việc khai thác mỏ gây tổn hại đến môi trường và an ninh quốc gia

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn