VÕ NGUYÊN GIÁP - Vị Đại tướng của nhân dân, người anh Cả của Quân đội và thiên tài quân sự thế kỷ XX
KỂ VỀ DANH NHÂN LỊCH SỬ VÕ NGUYÊN GIÁP
Vị Đại tướng của nhân dân, người anh Cả của Quân đội và thiên tài quân sự thế kỷ XX
Trong thế kỷ XX, thế giới đã chứng kiến những cuộc lội ngược dòng vĩ đại của các dân tộc nhược tiểu trước các đế quốc sừng sỏ nhất thời đại. Trên bản đồ quân sự thế giới, cái tên Võ Nguyên Giáp (1911 – 2013) đã trở thành một huyền thoại, được các nhà nghiên cứu, tướng lĩnh quốc tế kính trọng suy tôn là một trong những thống soái quân sự vĩ đại nhất mọi thời đại. Từ một thầy giáo dạy lịch sử chưa từng qua một trường lớp đào tạo quân sự chính quy nào, ông đã trở thành vị Đại tướng đầu tiên, Tổng tư lệnh tối cao của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Cả cuộc đời ông là một bản hùng ca chiến trận, gắn liền với những chiến công oanh liệt "chấn động địa cầu", một nhân cách lớn, giản dị và trọn đời vì nước vì dân.
Võ Nguyên Giáp sinh ra tại làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình – vùng đất miền Trung cát trắng, nơi giàu truyền thống kiên cường và trung dũng. Cha ông là cụ Võ Quang Nghiêm, một nhà nho yêu nước, từng tham gia phong trào Cần Vương; mẹ là cụ bà Nguyễn Thị Kiên. Lớn lên trong dòng máu yêu nước của gia đình và quê hương, ngay từ thuở thiếu niên, Võ Nguyên Giáp đã bộc lộ trí tuệ thông minh xuất chúng và tinh thần phản kháng mạnh mẽ trước ách đô hộ của thực dân Pháp. Khi ra Hà Nội học trường bưởi và sau đó là Đại học Luật, ông vừa học tập vừa hăng hái tham gia các phong trào bãi khóa của học sinh, sinh viên, viết báo lên án chính quyền thực dân. Sau khi tốt nghiệp, ông trở thành thầy giáo dạy môn Lịch sử tại trường Tư thục Thăng Long (Hà Nội), dùng những bài giảng về các anh hùng dân tộc như Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Quang Trung để nung nấu tinh thần yêu nước cho thế hệ trẻ.
Bước ngoặt lớn nhất cuộc đời ông diễn ra vào năm 1940, khi ông sang Trung Quốc và lần đầu tiên được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (tức Chủ tịch Hồ Chí Minh). Nhận thấy phẩm chất thiên tài ẩn chứa trong người thanh niên trí thức này, Bác Hồ đã tin tưởng giao cho ông nhiệm vụ vô cùng quan trọng: chuẩn bị xây dựng lực lượng vũ trang cho cách mạng. Ngày 22 tháng 12 năm 1444, tại một khu rừng nằm giữa hai tổng Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám thuộc tỉnh Cao Bằng, Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp chỉ huy lễ thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân – tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam hùng mạnh ngày nay. Đội quân thuở sơ khai ấy chỉ vỏn vẹn có 34 chiến sĩ với những khẩu súng thô sơ, nhưng dưới sự dẫn dắt của người chỉ huy trẻ tuổi, ngay sau đó đã lập chiến công vang dội: đánh thắng liên tiếp hai trận Phai Khắt và Nà Ngần, mở đầu cho truyền thống "quyết chiến quyết thắng" của quân đội ta.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trường kỳ gian khổ, tài năng quân sự của Võ Nguyên Giáp ngày càng tỏa sáng rực rỡ. Năm 1948, khi mới 37 tuổi, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh phong quân hàm Đại tướng, trở thành vị Đại tướng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đỉnh cao trong sự nghiệp cầm quân của ông chính là Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử năm 1954. Trước một tập đoàn cứ điểm phòng ngự "bất khả xâm phạm" do các tướng lĩnh hàng đầu của Pháp thiết kế với sự viện trợ tối đa của Mỹ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đưa ra một quyết định được coi là "khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy" của mình. Ông đã dũng cảm thay đổi phương châm chiến lược từ "đánh nhanh, thắng nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc". Quyết định cân não, đầy trách nhiệm ấy đã cứu mạng hàng vạn chiến sĩ và dẫn đến thắng lợi hoàn toàn vào chiều ngày 7 tháng 5 năm 1954, lá cờ quyết chiến quyết thắng tung bay trên nóc hầm tướng De Castries, chôn vùi hoàn toàn chủ nghĩa thực dân cũ của Pháp tại Đông Dương.
Không dừng lại ở đó, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trên cương vị Tổng tư lệnh tối cao, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp tục chèo lái con thuyền quân sự Việt Nam vượt qua những thử thách khốc liệt nhất của chiến tranh hiện đại. Ông đã cùng Bộ Chính trị vạch ra những kế hoạch chiến lược táo bạo, phát huy sức mạnh của chiến tranh nhân dân, lấy yếu thắng mạnh, lấy chí nhân thay cường bạo. Vào mùa xuân năm 1975 lịch sử, trong chiến dịch giải phóng miền Nam, Đại tướng đã phát đi bức điện mật khẩn, mệnh lệnh lịch sử làm nức lòng hàng triệu chiến sĩ: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa; tranh thủ từng phút, từng giờ; xốc tới mặt trận; giải phóng miền Nam; quyết chiến và toàn thắng!”. Mệnh lệnh ấy như ngọn lửa thúc giục đại quân ta tiến quân như vũ bão, đập tan mọi phòng tuyến, cắm lá cờ cách mạng lên Dinh Độc Lập vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, hoàn thành sự nghiệp thống nhất giang sơn bờ cõi.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp không chỉ vĩ đại bởi những chiến công hiển hách làm rung chuyển thế giới, mà ông còn là biểu tượng rực rỡ của một nhân cách cao cả, trọn đời vì nước, vì dân. Đối với các chiến sĩ, ông luôn là người anh Cả gần gũi, bao dung, luôn trân trọng từng giọt máu của người lính và coi đó là vốn quý nhất để tìm ra cách đánh ít tổn thất nhất. Khi đất nước hòa bình, dù ở bất cứ cương vị công tác nào, ông vẫn luôn dành sự quan tâm sâu sắc đến đời sống nhân dân, sự phát triển của khoa học giáo dục và vị thế của đất nước trên trường quốc tế.
Này 4 tháng 10 năm 2013, trái tim của vị Đại tướng huyền thoại đã ngừng đập, ông hưởng thọ 103 tuổi. Sự ra đi của ông đã để lại niềm tiếc thương vô hạn cho hàng triệu người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế. Hàng vạn người dân từ khắp mọi miền Tổ quốc đã lặng lẽ xếp hàng dài trên các con phố Hà Nội để tiễn đưa ông về nơi an nghỉ cuối cùng tại Vũng Chùa - Đảo Yến (Quảng Bình). Cuộc đời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một tấm gương sáng ngời, một ngọn núi cao sừng sững của thế kỷ XX, mãi mãi là niềm tự hào kiêu hãnh của dân tộc Việt Nam, soi đường cho các thế hệ hôm nay và mai sau trên con đường bảo vệ và xây dựng đất nước giàu mạnh.



