Bài viết

VÕ NGUYÊN GIÁP - VỊ TƯỚNG "HUYỀN THOẠI"

28/10/2026Triệu Khánh Linh (Đại học Sư phạm Hà Nội 2)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
VÕ NGUYÊN GIÁP - VỊ TƯỚNG "HUYỀN THOẠI"

                  

VÕ NGUYÊN GIÁP - VỊ TƯỚNG “HUYỀN THOẠI”

VNG.png

 

     

      Điều gì đã tạo nên một “huyền thoại” thực sự làm thay đổi "bàn cờ" địa - chính trị toàn cầu trong thế kỷ 20? Đó có phải là một phát minh mang tính đại bác như việc Julius Robert Oppenheimer đã phát chế ra bom nguyên tử? Hay việc khám phá ra thuốc kháng sinh của Alexander Fleming đã biến những căn bệnh nhiễm trùng chết người trước đây thành bệnh có thể chữa khỏi, kéo dài tuổi thọ trung bình của nhân loại? Với Ngõ Nguyên Giáp - một vị tướng đại tài, hai chữ “huyền thoại” chỉ đơn thuần xuất phát từ tấm lòng yêu nước vĩ đại mà thành. Truyền thông quốc tế chưa bao giờ tiếc những mỹ từ nghiêng mình trước ông. Tờ The New York Times từng gọi ông là "nhà chiến lược kiệt xuất đã đập tan hai đế quốc sừng sỏ", trong khi báo chí Pháp kính cẩn khắc họa ông như "một người thầy giáo dạy Sử làm thay đổi bản đồ địa - chính trị thế giới". Nhắc đến ông, người ta nhớ đến một Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu", những điều khiến thế giới thực sự nể phục lại chính là trái tim nhân hậu của một nhân cách lớn — người cầm quân chưa từng coi chiến thắng là mục đích tối thượng nếu phải đánh đổi bằng giọt máu chiến sĩ. Giữa hào quang chấn động địa cầu, ông vẫn vẹn nguyên hình ảnh "Người Anh Cả" bình dị, dịu dàng của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Một vị tướng tạc vào núi sông bằng trí tuệ, và tạc vào lòng người bằng tấm lòng nhân ái bao la.

       Đầu thế kỉ XX, Việt Nam như chìm trong đêm dài nô lệ dưới ách thống trị khắc nghiệt của thực dân Pháp. Trên mảnh đất quê hương, nhân dân phải oằn mình chịu biết bao áp bức, bóc lột; nhưng chính sự đau thương ấy , khát vọng độc lập, tự do lại bùng lên như ngọn lửa ngầm cuồn cuộn cháy trong trái tim hàng triệu người dân mất nước. Biết bao phong trào yêu nước lần lượt dâng trào, gieo vào lòng người những tia hi vọng về một ngày đất nước tháo bỏ xiềng xích.

 

     Chính bầu không khí u uất và u phẫn ấy đã nhen nhóm , thắp sáng lên ngọn lửa căm hờn cùng ước vọng tự do cháy bỏng trong tâm hồn người thanh niên vùng đất Quảng Bình. Lớn lên giữa nỗi đau cào xé của một dân tộc mất chủ quyền, ông sớm nuôi dưỡng mộ chí khí kiên cường và lòng yêu nước thiết tha . Từ một người thầy giáo miệt mài trên bục giảng, Võ Nguyên Giáp đã lựa chọn dấn thân vào con đường cách mạng gian khổ, hết lòng cống hiến vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.

 

Cuộc đời ông là bản hùng ca rung động , là điểm giao thoa rực rỡ giữa lí tưởng cá nhân với vân mệnh của cả dân tộc , giữa ước mơ riêng và khát vọng thiêng liêng của  cả một dân tộc . Chính thời đại đầy biến động ấy đã tôi luyện nên một vị tướng tài ba , kiệt xuất -  người sau này đã ghi dấu ấn trong những trang sử vàng chói lọi của Việt Nam thế kỉ XX.

 

     Đại tướng đã từng đúc kết : “Tài sản lớn nhất của dân tộc ta là lòng yêu nước, là tinh thần đoàn kết. Khi lòng yêu nước được khơi dậy, không có sức mạnh nào có thể ngăn cản được” .

 

    Bước sang những năm đầu thập niên 1940, dân tộc Việt Nam lại phải quằn quại dưới hai tầng ách gông còng khốc liệt của thực dân Pháp và phát xít Nhật. Giữa bối cảnh “ngàncân treo sợi tóc ấy”, tháng 5 năm 1941, Hội nghị Trung ương lần thứ tám do Nguyễn Ái Quốc chủ trì tại mảnh đất Pác Bó (Cao Bằng) đã như một ngọn hải đăng soi sáng con đường cách mạng. Hội nghị khẳng định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là mệnh lệnh cấp bách hàng đầu, đồng thời quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) vào ngày 19 tháng 5 năm 1941. Sự ra đời của Việt Minh như ngọn cờ giương cao giữa dông bão, kết tinh và quy tụ muôn triệu lòng yêu nước, thắp sáng quyết tâm giành lại độc lập cho giang sơn gấm vóc .

 

 

 

 

 

     Hòa mình vào phong trào cách mạng sục sôi ấy, Võ Nguyên Giáp đã xông xáo tham gia xây dựng cơ sở, phát triển lực lượng và miệt mài chuẩn bị mọi mặt về quân sự cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Ông gánh vác trách nhiệm dựng xây căn cứ địa cách mạng tại Cao Bằng và dải đất Việt Bắc anh hùng; đồng thời trực tiếp làm công tác tuyên truyền, vận động quần chúng, từng bước đặt những viên gạch vững chắc đầu tiên tạo dựng nền móng cho lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam .

 

    Bước ngoặt lịch sử quan trọng diễn ra vào tháng 12 năm 1944, khi Võ Nguyên Giáp được Lãnh tụ Hồ Chí Minh tin tưởng giao phó sứ mệnh thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Ngày 22 tháng 12 năm 1944, giữa chốn đại ngàn Trần Hưng Đạo (Cao Bằng) linh thiêng, một đội quân kiên cường gồm 34 chiến sĩ áo vải đã chính thức tuyên thề ra đời dưới sự chỉ huy của ông. Dù lực lượng ban đầu còn vô cùng nhỏ bé với những vũ khí thô sơ, nhưng chính 34 hạt giống đỏ ấy đã trở thành mầm sống đầu tiên, kết tinh nên Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng sau này. Từ chốn núi rừng Việt Bắc thẳm sâu, từng bước chân sương gió của các chiến sĩ cách mạng đã mở ra chặng đường hào hùng, xây dựng nên một lực lượng quân sự quả cảm, đủ sức cùng nhân dân đứng lên giành lại chính quyền và giữ vững nền độc lập cho Tổ quốc.

                

image.png

Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân – tiền thân của quân đội nhân dân Việt Nam .  

 Đến tháng 8 năm 1945, thời cơ vàng của lịch sử đã điểm khi phát xít Nhật gục ngã, đầu hàng Đồng minh. Dưới ngọn cờ lãnh đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước như một khối đoàn kết vững chắc, đồng loạt đứng lên làm nên chiến thắng vĩ đại của cuộc Cách mạng tháng Tám. Trong những ngày tháng sục sôi ấy, Võ Nguyên Giáp vừa trực tiếp chỉ đạo lực lượng vũ trang, vừa sát cánh tại các sự kiện then chốt của cuộc Tổng khởi nghĩa, đóng góp to lớn vào thắng lợi chung của dân tộc .

 

Vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, giữa Quảng trường Ba Đình rợp cờ đỏ sao vàng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trang trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Lời tuyên bố độc lập ngân vang giữa bầu trời thu Hà Nội như lời thề sông núi, khẳng định với toàn thế giới về quyền được sống trong tự do, bình đẳng và tự quyết vận mệnh của dân tộc Việt Nam. Hành trình dài từ ngày Mặt trận Việt Minh ra đời cho đến khúc khải hoàn của Cách mạng tháng Tám là một chặng đường chuẩn bị bền bỉ, kiên cường; trong đó, những cống hiến quan trọng của Võ Nguyên Giáp về tổ chức lực lượng và công tác quân sự đã góp phần biến khát vọng độc lập cháy bỏng thành hiện thực lịch sử .

 

      Sau Cách mạng tháng Tám thành công, nền độc lập non trẻ của Việt Nam đã phải đối mặt với muôn vàn thử thách hiểm nghèo. Khi thực dân Pháp nuôi dã tâm quay trở lại xâm lược, toàn thể nhân dân ta lại một lần nữa phải bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, quả cảm để bảo vệ vẹn toàn thành quả cách mạng. Trong hoàn cảnh đất nước còn nghèo nàn, vũ khí thiếu thốn, lực lượng quân đội chưa thực sự lớn mạnh, Võ Nguyên Giáp được giao trọng trách Tổng chỉ huy quân đội, từng bước tổ chức và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Bằng trí tuệ sắc bén, bản lĩnh vững vàng và nghệ thuật quân sự linh hoạt, ông đã cùng quân và dân ta vượt qua muôn vàn thử thách, từng bước làm thay đổi cục diện trên chiến trường.

     Đỉnh cao của cuộc kháng chiến ấy chính là chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Trước những khó khăn thực tế và yêu cầu tối thượng là bảo đảm chắc thắng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã quyết đoán chuyển phương châm tác chiến từ "đánh nhanh, thắng nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc". Đây là quyết định thể hiện sự cân nhắc cẩn trọng, bản lĩnh phi thường của người chỉ huy luôn đặt sự an toàn của bộ đội lên hàng đầu. Sau 56 ngày đêm chiến đấu gian khổ, quân và dân ta đã giành thắng lợi vang dội, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Genève năm 1954. Chiến thắng ấy không chỉ khẳng định tài thao lược kiệt xuất của Đại tướng, mà còn chứng minh sức mạnh phi thường của một dân tộc tuy nhỏ bé nhưng chưa bao giờ chịu khuất phục trước cường quyền. Điện Biên Phủ đã trở thành biểu tượng rực rỡ của ý chí độc lập, tự do và tinh thần đoàn kết vô song .

     Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, đất nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt hai miền, mang trong mình nỗi đau quặn thắt của cảnh non sông chưa liền một dải. Miền Bắc vững bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, trở thành hậu phương lớn dạt dào sức mạnh cho cuộc đấu tranh ở miền Nam; trong khi đó, nhân dân miền Nam tiếp tục kiên cường chiến đấu vì mục tiêu giải phóng quê hương, thống nhất đất nước. Sự can thiệp ngày càng sâu của đế quốc Mỹ khiến cuộc chiến tranh trở nên vô cùng khốc liệt, gieo xuống mảnh đất Việt Nam biết bao đau thương và mất mát. Trong hoàn cảnh gian lao ấy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp tục có những đóng góp quan trọng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo quân sự, cùng tập thể lãnh đạo cách mạng hoạch định đường lối và chiến lược đấu tranh sáng suốt .

      Năm 1975, khi cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn quyết định, tinh thần tiến công và quyết tâm giải phóng miền Nam được đẩy lên cao độ. Trong thời khắc lịch sử ấy, bức điện của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi các đơn vị tham gia chiến dịch đã nhấn mạnh: "Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa; tranh thủ từng phút, từng giờ...". Những lời hiệu triệu mạnh mẽ ấy thể hiện tinh thần khẩn trương, quyết đoán và khát vọng thống nhất non sông. Đại thắng mùa Xuân năm 1975, với đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Sau bao năm chia cắt, ngày Bắc – Nam sum họp đã trở thành hiện thực, khép lại một chặng đường chiến tranh đầy gian khổ và mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc. 

image.png

Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không – không quân , ngày 30-12-1972

 

Trong bản trường ca thống nhất ấy, những cống hiến to lớn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp chính là một phần vô cùng tự hào, gắn liền với ý chí kiên cường và khát vọng hòa bình bất diệt của toàn thể nhân dân Việt Nam .

     Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25/8/1911 tại làng An Xá, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, trong một gia đình nhà nho giàu truyền thống yêu nước. Ngay từ thuở thiếu thời, ông đã sớm hình thành tinh thần dân tộc và ý thức đấu tranh trước những bất công của chế độ thực dân. Trong những năm 1925–1926, khi còn học tại Huế, ông tham gia phong trào đấu tranh của học sinh. Năm 1930, ông bị thực dân Pháp bắt giam vì hoạt động cách mạng. Sau khi ra tù, ông tiếp tục học tập, làm báo và giảng dạy lịch sử tại Trường Thăng Long, Hà Nội. Chính quá trình học tập và nghiên cứu lịch sử đã giúp ông tích lũy vốn tri thức sâu rộng, tạo nền tảng cho tư duy quân sự sau này. Từ một người trí thức yêu nước, Võ Nguyên Giáp từng bước lựa chọn con đường cách mạng, đặt nền móng cho hành trình trở thành một trong những nhà lãnh đạo quân sự tiêu biểu của Việt Nam.

     Năm 1940, Võ Nguyên Giáp tham gia Đảng Cộng sản Đông Dương, sau đó sang Trung Quốc gặp Nguyễn Ái Quốc và được giao những nhiệm vụ cách mạng quan trọng. Ngày 22/12/1944, theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, ông tổ chức thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tại Cao Bằng với 34 chiến sĩ. Đây là tổ chức tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam, đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời ông: từ một nhà giáo trở thành người trực tiếp tổ chức và chỉ huy lực lượng vũ trang cách mạng. Năm 1945, ông góp phần vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, mở ra kỷ nguyên độc lập của dân tộc. Trong giai đoạn này, tư duy lãnh đạo của ông thể hiện ở khả năng kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, chú trọng xây dựng lực lượng từ những đơn vị nhỏ, lấy tinh thần yêu nước và sức mạnh đoàn kết làm nền tảng.

     Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Võ Nguyên Giáp giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức, xây dựng và chỉ huy quân đội. Năm 1947, ông tham gia chỉ đạo cuộc chiến đấu chống cuộc tiến công của quân Pháp lên căn cứ địa Việt Bắc, góp phần làm thất bại âm mưu nhanh chóng kết thúc chiến tranh của đối phương. Năm 1950, với vai trò trực tiếp chỉ huy Chiến dịch Biên giới, ông cùng quân đội giành thắng lợi quan trọng, khai thông tuyến biên giới Việt – Trung và tạo điều kiện để cuộc kháng chiến chuyển sang thế chủ động tiến công. Ngày 28/5/1948, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh phong quân hàm Đại tướng, trở thành Đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.

 

      Đỉnh cao trong sự nghiệp quân sự của ông là Chiến dịch Điện Biên Phủ (13/3–7/5/1954). Trước những khó khăn về địa hình, hậu cần và tương quan lực lượng, ông quyết định chuyển phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Đây là quyết định thể hiện rõ bản lĩnh, sự tỉnh táo và tư duy thực tiễn của người chỉ huy: sẵn sàng thay đổi kế hoạch để bảo đảm thắng lợi và hạn chế tổn thất cho bộ đội. Ngày 7/5/1954, chiến dịch kết thúc thắng lợi, góp phần quyết định vào việc buộc thực dân Pháp đi đến ký kết Hiệp định Genève tháng 7/1954. Chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ khẳng định tài thao lược của Đại tướng mà còn trở thành biểu tượng của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc trên thế giới. 

     Sau năm 1954, Võ Nguyên Giáp tiếp tục đảm nhiệm những trọng trách quan trọng trong lĩnh vực quốc phòng và chính phủ, góp phần xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng miền Bắc và tổ chức chi viện cho chiến trường miền Nam. Trong giai đoạn này, ông đề cao tư duy chiến tranh nhân dân, coi trọng sự phối hợp giữa bộ đội chủ lực, lực lượng địa phương và nhân dân. Theo ông, sức mạnh quân sự không chỉ nằm ở vũ khí hay quân số mà còn ở tinh thần chiến đấu, khả năng tổ chức và sự đoàn kết của toàn dân tộc.

     Tháng 12/1972, trong cuộc chiến đấu chống cuộc tập kích đường không chiến lược của Mỹ, quân và dân miền Bắc giành thắng lợi thường được gọi là chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”. Đại tướng cùng tập thể lãnh đạo Đảng, Nhà nước và quân đội có vai trò quan trọng trong công tác lãnh đạo quốc phòng. Đến mùa Xuân năm 1975, ông tham gia những quyết sách chiến lược quan trọng, góp phần vào thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc ngày 30/4/1975. Thắng lợi này chấm dứt chiến tranh, giải phóng miền Nam và mở ra thời kỳ thống nhất đất nước. Trong giai đoạn ấy, phẩm chất nổi bật của Đại tướng là tầm nhìn chiến lược, khả năng nắm bắt thời cơ và ý thức đặt mục tiêu chung của dân tộc lên hàng đầu. 

     Sau năm 1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp tục đảm nhiệm nhiều trọng trách, trong đó có Phó Thủ tướng Chính phủ và Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Ông quan tâm đến các vấn đề quốc phòng, giáo dục, khoa học và sự phát triển lâu dài của đất nước. Năm 1992, ông được trao tặng Huân chương Sao vàng, phần thưởng cao quý của Nhà nước Việt Nam. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, ông còn được tặng Huân chương Hồ Chí Minh hai lần, hai Huân chương Quân công hạng Nhất cùng nhiều phần thưởng cao quý khác. Những phần thưởng ấy ghi nhận những đóng góp to lớn của ông đối với sự nghiệp cách mạng và công cuộc bảo vệ Tổ quốc.

      Ngày 4/10/2013, Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua đời, hưởng thọ 102 tuổi. Sự ra đi của ông để lại niềm tiếc thương sâu sắc trong lòng nhân dân Việt Nam và sự kính trọng của bạn bè quốc tế. Nhìn lại cuộc đời Đại tướng, có thể thấy tầm vóc của ông không chỉ được tạo nên bởi những chiến thắng lẫy lừng, mà còn bởi tư duy lãnh đạo linh hoạt, khả năng đánh giá tình hình, tinh thần tôn trọng thực tiễn và sự quan tâm đến con người. Từ một người thầy giáo dạy lịch sử trở thành vị Đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, ông đã để lại bài học sâu sắc về lòng yêu nước, trí tuệ, bản lĩnh và trách nhiệm. Cuộc đời Võ Nguyên Giáp mãi là một dấu son trong lịch sử dân tộc, biểu tượng cho ý chí độc lập, khát vọng tự do và sức mạnh đoàn kết của nhân dân Việt Nam.

      Xuyên suốt hành trình lãnh đạo và chỉ huy quân sự, điểm nổi bật làm nên tầm vóc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp chính là tư duy chiến lược kiệt xuất, được hình thành từ sự kết hợp giữa truyền thống đánh giặc của dân tộc, tinh hoa quân sự thế giới và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước hết, ông luôn giữ phương pháp luận khoa học và khách quan trong việc phân tích thực tiễn: cẩn trọng đánh giá tương quan lực lượng đôi bên, không chủ quan đánh giá thấp kẻ thù nhưng cũng tuyệt đối không đề cao hay e ngại sức mạnh vật chất của chúng. Nhờ nhìn thấu điểm mạnh, điểm yếu chiến lược của đối phương, ông đã cùng Trung ương Đảng đề ra các sách lược phù hợp để thực hiện nghệ thuật lấy yếu thắng mạnh, lấy tinh nhuệ thắng hiện đại.

     Bên cạnh đó, tư duy chiến lược của ông gắn liền với việc vận dụng sáng tạo đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân và toàn diện. Trong kháng chiến chống Pháp, ông chỉ đạo kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh du kích ở các địa phương với tác chiến tập trung của khối chủ lực, buộc đối phương phải phân tán lực lượng và rơi vào thế bị động. Đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, tư duy đó tiếp tục phát triển khi kết hợp nhịp nhàng đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và ngoại giao, chỉ đạo tác chiến trên cả ba vùng chiến lược. Đặc biệt, ông còn thể hiện bản lĩnh của một nhà chỉ huy kiệt xuất qua nghệ thuật tạo và chớp thời cơ chiến lược; mà tiêu biểu là quyết định lịch sử chuyển phương châm sang "đánh chắc, tiến chắc" tại Điện Biên Phủ năm 1954, hay mệnh lệnh "Thần tốc, thần tốc hơn nữa..." trong Mùa Xuân đại thắng 1975.

     Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được trao tặng nhiều huân chương, huy chương và phần thưởng cao quý. Ngày 28/5/1948, ông được phong quân hàm Đại tướng; năm 1950, ông được trao Huân chương Hồ Chí Minh lần thứ nhất; năm 1979, được trao Huân chương Hồ Chí Minh lần thứ hai. Năm 1992, ông được trao Huân chương Sao vàng; ngày 27/10/2010, ông được trao Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng. Ngoài ra, ông còn được tặng hai Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, sáu Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huy chương Quân kỳ quyết thắng và Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba, cùng nhiều phần thưởng khác.

 Tầm vóc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã vượt ra khỏi biên giới Việt Nam, trở thành một biểu tượng quân sự toàn cầu được cả đồng minh và cựu thù kính trọng:

    Nhận định của nguyên thủ: Chủ tịch Cuba Fidel Castro ca ngợi ông là nhà chiến lược lỗi lạc của thế kỷ XX chứng minh sức mạnh của nhân dân đánh bại đế quốc, trong khi Tổng thống Nam Phi Nelson Mandela xem tư duy chiến tranh của tướng Giáp là nguồn cảm hứng chống phân biệt chủng tộc.

   Sự thán phục từ cựu thù: Tướng Mỹ William Westmoreland thừa nhận tướng Giáp hội tụ mọi phẩm chất của một nhà lãnh đạo quân sự lớn ở mức độ cao. Các học giả và tướng lĩnh Pháp cũng đánh giá ông là thiên tài quân sự trưởng thành từ thực địa.

     Vinh danh toàn cầu: Đại tướng được Bách khoa toàn thư Anh quốc xếp ngang hàng với các danh tướng kiệt xuất lịch sử, được vinh danh trong sách của Nhà xuất bản Quân sự London, và ghi tên vào top 10 vị tướng vĩ đại nhất mọi thời đại tại Bảo tàng lịch sử quân sự Hoàng gia Anh.

      Cuộc đời, tư tưởng và những chiến công lẫy lừng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp – vị Tổng Tư lệnh đầu tiên, "người anh cả" của Quân đội nhân dân Việt Nam – trước hết kết tinh tư tưởng quân sự độc đáo kết hợp cùng nhân cách lớn lao "dĩ công vi thượng" (lấy việc công làm đầu). Là một thiên tài quân sự, Đại tướng nổi bật với tư duy sắc bén "đánh chắc, tiến chắc" trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 hay chiến lược "thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng" trong mùa Xuân năm 1975, chứng minh rằng một dân tộc thuộc địa nhỏ bé hoàn toàn có thể đánh bại các cường quốc hùng mạnh bằng ý chí và trí tuệ. Tư tưởng lớn nhất của ông gói gọn trong triết lý: mục đích cao nhất của chiến tranh và cầm quân là vì hòa bình, độc lập, tự do cho dân tộc, và "mọi thắng lợi đều thuộc về nhân dân".

      Từ cuộc đời và sự nghiệp vẻ vang ấy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi gắm đến các thế hệ thông điệp sâu sắc về lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và trách nhiệm gây dựng, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Ông là hiện thân sống động của phẩm chất "Trí - Dũng - Nhân - Tín - Liêm - Trung" của người tướng, đồng thời là minh chứng sống cho sức mạnh vĩ đại nhất không đến từ vũ khí tối tân, mà bắt nguồn từ lòng dân, từ hậu phương vững chắc và từ trí tuệ linh hoạt trước mọi biến cố lịch sử. Thông điệp mà Đại tướng để lại vẫn luôn đồng hành cùng dân tộc: giữ vững độc lập bằng thực lực, trân trọng giá trị hòa bình, và không ngừng rèn luyện để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển phồn vinh, hạnh phúc.

     Không chỉ dừng lại ở tư duy quân sự kiệt xuất, thông điệp tư tưởng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn mang tầm nhìn vượt thời gian về một Việt Nam tự cường dựa trên nền tảng tri thức và văn hóa. Là một nhà giáo dạy sử trước khi trở thành vị Tổng tư lệnh huyền thoại, ông luôn đau đáu về sức mạnh của giáo dục và sự tiến bộ của khoa học - công nghệ. Đại tướng đã gửi gắm thông điệp sâu sắc: muốn đưa đất nước tiến lên trong thời đại mới, đưa dân tộc sánh vai với các cường quốc năm châu, chúng ta không thể chỉ dựa vào nguồn tài nguyên sẵn có mà phải bằng nội lực của chất xám, sự sáng tạo và tri thức độc lập. Ông coi khoa học kỹ thuật chính là đòn bẩy chiến lược để bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa, và là chìa khóa mở ra cánh cửa phồn vinh cho dân tộc trong thế kỷ mới.

     Bên cạnh đó, chiều sâu tư tưởng của Đại tướng còn kết tinh ở giá trị nhân văn cao cả của một nhân cách “Văn - Võ song toàn”. Trong suốt cuộc đời cầm quân, ông luôn thấu suốt bản chất của một quân đội cách mạng: quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Đối với ông, sinh mạng của mỗi người lính là tài sản vô giá của gia đình và Tổ quốc. Tinh thần ấy không chỉ thể hiện ở những quyết định thay đổi phương châm tác chiến đầy bản lĩnh tại trận địa, mà còn nằm ở sự bao dung, giản dị trong đời thường, khiến ông trở thành biểu tượng của người cha, người anh, người đồng chí kính yêu của mọi thế hệ chiến sĩ. Từ đó, Đại tướng để lại một bài học lớn về nghệ thuật thu phục lòng người – nghệ thuật lấy nhân nghĩa làm gốc, lấy sự chân thành để quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Những giá trị tư tưởng ấy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã vượt qua giới hạn của không gian và thời gian, trở thành ngọn đuốc soi đường, nhắc nhở thế hệ hôm nay rằng: đỉnh cao của tài năng quân sự và chính trị phải luôn song hành cùng một trái tim nhân hậu, hết lòng phụng sự nhân dân.

 

     Đứng trước những công lao to lớn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thế hệ trẻ hôm nay cần nuôi dưỡng trong tim mình lòng biết ơn sâu sắc và niềm tự hào thiêng liêng về lịch sử dân tộc. Đại tướng đã dành trọn cuộc đời mình cho độc lập, tự do của Tổ quốc, để đổi lấy cho chúng ta được sống trong hòa bình hôm nay, được tự do theo đuổi những ước mơ và khát vọng của tuổi trẻ. Vì vậy, lòng biết ơn không nên chỉ dừng lại ở những lời ca ngợi hân hoan hay vài phút giây xúc động ngắn ngủi, mà phải được thắp sáng bằng những hành động thiết thực. Mỗi người trẻ cần không ngừng học tập, rèn luyện đạo đức, trau dồi bản lĩnh, sống có lí tưởng và trách nhiệm với cộng đồng noi gương của Người. Đồng thời mỗi người trẻ cần chủ động tìm hiểu lịch sử, gìn giữ những giá trị truyền thống và lan tỏa những câu chuyện đẹp về Đại tướng đến các thế hệ sau. Đặc biệt, trong thời đại hôm nay, khi đất nước đang vươn mình mạnh mẽ, tuổi trẻ càng phải biến lòng yêu nước thành khát vọng cống hiến, biến niềm tự hào thành những việc làm có ích cho quê hương. Vì có lẽ, cách tri ân sâu sắc nhất đối với những người đã hiến dâng cả cuộc đời mình cho Tổ quốc chính là sống sao cho xứng đáng với những gì thế hệ cha anh đã dốc lòng đánh đổi, giành lấy. Năm tháng sẽ qua đi, những người anh hùng có thể trở về với đất mẹ, nhưng ngọn cờ lí tưởng mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp thắp lên sẽ mãi soi đường cho các thế hệ trẻ Việt Nam trên hành trình dựng xây một đất nước hòa bình, giàu mạnh và trường tồn.


Nguồn tài liệu tham khảo

1. Bộ Quốc phòng Việt Nam – Tiểu sử, sự nghiệp quân sự, chức vụ và các phần thưởng cao quý.  

2. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ - https://baochinhphu.vn/tom-tat-tieu-su-dai-tuong-vo-nguyen-giap-102150438 

3. Tư liệu Văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam – Quá trình công tác và những cống hiến của Đại tướng. Tư liệu văn kiện Đảng

4. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ – Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng – Thông tin về lễ trao Huy hiệu ngày 27/10/2010. baochinhphu.vn

5. Báo Quân đội nhân dân – Đại tướng Võ Nguyên Giáp – https://www.qdnd.vn/tuong-linh-viet-nam/vo-nguyen-giap-vi-tuong-huyen-thoai-668143

6. Tổng tập hồi ký Đại tướng Võ Nguyên Giáp; Học giả quốc tế Peter Macdonald - "Giap: The Victor in Vietnam"; Học giả Cecil B. Currey - "Victory at Any Cost"














































      

 

 

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn