Võ Nguyên Giáp - “vị tướng huyền thoại” của dân tộc Việt Nam
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn phải đương đầu với những cuộc chiến tranh chống xâm lược và đã lập nên những chiến công hiển hách; đồng thời cũng xuất hiện những danh tướng lẫy lừng của dân tộc ta. Một trong “Tứ đại danh tướng Việt Nam” đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp - “Vị tướng huyền thoại” của dân tộc Việt Nam.

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn phải đương đầu với những cuộc chiến tranh chống xâm lược và đã lập nên những chiến công hiển hách; đồng thời cũng xuất hiện những danh tướng lẫy lừng của dân tộc ta. Một trong “Tứ đại danh tướng Việt Nam” đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp - “Vị tướng huyền thoại” của dân tộc Việt Nam.
Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam đều khẳng định rằng: trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam đã xuất hiện nhiều “Tướng có tiếng và tài giỏi”. Trong “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú có viết: các vị tướng đạt đến bậc “đại danh tướng” trong lịch sử dân tộc, đó là: Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn và Nguyễn Huệ. Đến thế kỷ thứ XX, trong thời đại Hồ Chí Minh, mẫu mực thứ tư để hợp thành “tứ đại danh tướng Việt Nam” đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Nếu như trong bộ ba nhân tướng thời trung cổ, vị Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo đã được nhân dân suy tôn thành “Đức Thánh Trần”, thì ở thế kỷ XX, “Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, cùng với đại võ công Điện Biên Phủ năm 1954 đã được - không chỉ Việt Nam, mà còn cả thế giới nữa - suy tôn là “Vị tướng huyền thoại”(1).
Trước hết, từ thầy giáo dạy lịch sử trở thành người chỉ huy quân sự. Có một câu hỏi mà chỉ có Chủ tịch Hồ Chí Minh mới lý giải một cách thấu đáo đó là: Vì sao Người chọn Võ Nguyên Giáp - thầy giáo dạy lịch sử ở trường Tư thục Thăng Long, về dung mạo thuộc hàng “bạch diện thư sinh” đảm nhiệm việc thành lập tổ chức quân sự và chỉ huy quân sự, trong khi ở thời kỳ đó, có hàng chục học viên Việt Nam tốt nghiệp Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc) được đào tạo cơ bản về quân sự! Và ngay từ lần gặp đầu tiên năm 1940, tại Côn Minh (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc đã nhìn thấy ở Võ Nguyên Giáp một thiên tài quân sự và tin tưởng giao cho Ông nhiệm vụ chỉ huy quân sự của cách mạng Việt Nam; đồng thời Người căn dặn Võ Nguyên Giáp “Phải tranh thủ học tập về quân sự”(2), quyết định giao cho Võ Nguyên Giáp việc thành lập và chỉ huy Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân vào ngày 22-12-1944. Đây là sự kiện đánh dấu và quyết định đến sự nghiệp chỉ huy quân sự của Võ Nguyên Giáp.v
Thứ hai, Võ Nguyên Giáp là vị chỉ huy được phong quân hàm duy nhất chỉ có một lần - cấp hàm Đại tướng. Sau chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông năm 1947 giành thắng lợi, ngày 20-01-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 110-SL phong quân hàm Đại tướng cho Võ Nguyên Giáp - Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và Dân quân tự vệ. Đây không chỉ là trọng trách mà Đảng, Nhà nước giao cho mà còn là sự tin tưởng vào tài năng, đức độ, “văn - võ song toàn”, có đầy đủ phẩm chất nhân cách một người làm “Tướng”. Điều ngẫu nhiên rất thú vị là Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25-8-1911, sau 37 năm sau, Lễ thụ phong quân hàm Đại tướng cho Võ Nguyên Giáp đúng ngày 25-8-1948 và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Trao cho chú chức vụ Đại tướng để chú điều khiển binh sĩ làm tròn sứ mạng mà quốc dân phó thác cho”; “Trong quân đội, nhiệm vụ của người tướng là phải: “trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung”(3). Những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấm sâu vào trái tim, khối óc và hành động cách mạng suốt cuộc đời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Thứ ba, trong 30 năm liền giữ cương vị là Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ huy Quân đội nhân dân Việt Nam đánh thắng các đội quân quân xâm lược của chủ nghĩa phát xít, thực dân, đế quốc giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Dưới quyền chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, quân và dân ta đánh bại quân xâm lược của phát xít Nhật, để cướp chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Sau đó, đánh thắng thực dân Pháp, kết thúc bằng chiến dịch Điện Biên Phủ - được mệnh danh là tập đoàn cứ điểm “bất khả xâm phạm”. Điều cần nhấn mạnh là, trong chiến dịch này, được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ: “Tướng quân tại ngoại, trao cho chú toàn quyền quyết định. Trận này quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng, không đánh”, Đại tướng đã ra nhiều quyết định quan trọng, trong đó có quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời làm tướng của mình là chuyển phương châm chiến dịch Điện Biên Phủ từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”, với quyết tâm “ta vẫn giữ vững quyết tâm tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ, nhưng phải thay đổi cách đánh”. Chính quyết định ấy đã góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, lập lại hòa bình ở miền Bắc nước ta.
Hiệp định Giơnevơ ký kết chưa được bao lâu thì đế quốc Mỹ hất cẳng thực dân Pháp xâm lược nước ta, đặt ách thống trị kiểu thực dân mới, buộc nhân dân ta phải tiếp tục cuộc kháng chiến mới, gay go, ác liệt hơn. Với ý chí quyết tâm “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, được Đảng, Nhà nước, Bác Hồ tiếp tục giao nhiệm vụ chỉ huy Quân đội ta, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã cùng Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng lãnh đạo toàn dân, toàn quân ta lần lượt đánh thắng các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai, làm nên chiến thắng vĩ đại mùa Xuân năm 1975 trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã buộc 10 đại tướng (7 tướng Pháp và 3 tướng Mỹ) phải hứng chịu thất bại ở Việt Nam. Đây không chỉ là chiến công lẫy lừng của quân và dân ta, mà còn là sự kiện nổi bật trong lịch sử chiến tranh ở thế kỷ XX. Với những chiến công đó, Đại tướng không chỉ là vị tướng huyền thoại trong lòng người dân Việt Nam, mà còn là một thiên tài quân sự được thế giới trân trọng và suy tôn là một trong 10 vị tướng vĩ đại nhất lịch sử thế giới qua mọi thời đại.
Trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và đổi mới đất nước, dù trên cương vị nào được Đảng, Nhà nước đặt niềm tin giao cho, Đại tướng đều dồn hết tâm sức, trí tuệ và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Và điều đặc biệt là, Võ Nguyên Giáp được nhân dân vinh danh là Đại tướng của nhân dân; được cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân gọi với cái tên trìu mến “Anh Cả” của Quân đội nhân dân Việt Nam - điều mà hiếm gặp trên thế giới!
Thứ tư, cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng đã để lại cho quân và dân ta, nhất là các tướng lĩnh, sĩ quan Quân đội “cẩm nang”, “sách gối đầu giường” qua những tác phẩm tổng kết hai cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc mà Đại tướng là vị chỉ huy tài ba, lỗi lạc và đã giành chiến thắng. Tiêu biểu trong kháng chiến chống Pháp là những tác phẩm: “Phát động du kích chiến tranh”, “Tiến mạnh sang giai đoạn mới”, “Chiến tranh giải phóng và Quân đội nhân dân - ba giai đoạn chiến lược”, “Điện Biên Phủ”. Trong kháng chiến chống Mỹ: Đại tướng đã viết nhiều tác phẩm bàn về lực lượng vũ trang nhân dân, chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, chiến tranh nhân dân trên địa bàn sông nước… Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa từ năm 1975, Đại tướng có điều kiện nhìn nhận, đánh giá những vấn đề thuộc về chiến tranh giải phóng, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nghiên cứu sâu tư tưởng Hồ Chí Minh, nghệ thuật quân sự Việt Nam…, và hàng loạt tác phẩm, hồi ký như: “Từ nhân dân mà ra”, “Chiến đấu trong vòng vây”, “Đường tới Điện Biên Phủ”, “Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử”, “Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng”, “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam” “Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh”, “Thế giới đổi thay, tư tưởng Hồ Chí Minh còn sống mãi”, … Điều đó càng chứng tỏ phẩm chất “văn - võ song toàn” của Đại tướng, đúng như Giáo sư Vũ Khiêu đã viết: “Võ công truyền Quốc sử/Văn đức quán nhân tâm”.



