Người có công giúp đỡ cách mạng

Võ Nguyên Giáp – Vị tướng vĩ đại và bình dị

Võ Nguyên Giáp – Vị tướng vĩ đại và bình dị Đại tướng Võ Nguyên Giáp là học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người Anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam, vị tướng văn võ song toàn, thiên tài quân sự lỗi lạc của tất cả các thời đại. Ông thực sự xứng đáng với 10 chữ vàng: “Võ công truyền quốc sử, văn đức quán nhân tâm” (Chiến công lưu truyền lịch sử dân tộc/Nhân văn đức độ thấu tận lòng người) do Viện Mác - Lê-nin kính tặng. THỜI THANH NIÊN SÔI NỔI Võ Nguyên Giáp quê ở làng An Xá, xã Lộc

Đồng Nai10/06/2026Nguyễn Đình yên (Đoàn xã Xuân Bắc)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Võ Nguyên Giáp – Vị tướng vĩ đại và bình dị

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người Anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam, vị tướng văn võ song toàn, thiên tài quân sự lỗi lạc của tất cả các thời đại. Ông thực sự xứng đáng với 10 chữ vàng: “Võ công truyền quốc sử, văn đức quán nhân tâm” (Chiến công lưu truyền lịch sử dân tộc/Nhân văn đức độ thấu tận lòng người) do Viện Mác - Lê-nin kính tặng.

THỜI THANH NIÊN SÔI NỔI

Võ Nguyên Giáp quê ở làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Ông sinh ngày 25/8/1911, trong một gia đình nhà nho có truyền thống hiếu học và yêu nước. Năm 1925, mới 14 tuổi và đang học tại Trường Quốc học Huế, Võ Nguyên Giáp bắt đầu hoạt động cách mạng, tham gia đấu tranh đòi ân xá cho nhà chí sĩ Phan Bội Châu và truy điệu Phan Châu Trinh. Năm 1927, ông bị đuổi học vì tham gia tổ chức bãi khóa. Năm 1929, ông tham gia Tân Việt cách mạng Đảng và tham gia cải tổ tổ chức này thành Đông dương cộng sản liên đoàn. Năm 1930, ông bị thực dân Pháp bắt giam vì hoạt động chống Pháp. Năm 1931, được trả tự do, ông ra Hà Nội học và hoạt động cách mạng. Năm 1936 - 1939, Võ Nguyên Giáp tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, đấu tranh trên mặt trận văn hóa, làm biên tập viên cho các báo của Đảng, viết bài cho nhiều tờ báo công khai như Lao Động, Tiến lên, Tiếng nói của chúng ta, Thời báo Cờ giải phóng... làm Chủ tịch Ủy ban báo chí Bắc kỳ trong phong trào Đông Dương Đại hội và dạy sử - địa ở Trường tư thục Thăng Long.

Năm 1940, đế quốc Pháp ráo riết khủng bố cách mạng, các tổ chức hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp rút vào hoạt động bí mật, theo sự phân công của Đảng, ông cùng đồng chí Phạm Văn Đồng bí mật đi tàu hỏa lên Lào Cai, vượt biên giới sang Côn Minh, Trung Quốc. Tháng 6/1940, Võ Nguyên Giáp được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại Thúy Hồ, Côn Minh và được Người căn dặn, giao nhiệm vụ. Ông và Phạm Văn Đồng được Bác cử đi Diên An để học chính trị, quân sự, song do tình hình thay đổi, ông được lệnh ở lại và chuyển về biên giới, tìm cách về nước hoạt động. Cuối năm 1940, Võ Nguyên Giáp về Tĩnh Tây, được Nguyễn Ái Quốc hướng dẫn, giao nhiệm vụ cùng Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng tổ chức lớp huấn luyện cho 40 thanh niên người Cao Bằng. Ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc vượt biên giới Việt - Trung về Pác Bó, Cao Bằng, Võ Nguyên Giáp cùng Phạm Văn Đồng trở lại Tĩnh Tây hoạt động, thường xuyên từ Tĩnh Tây về Pác Bó báo cáo tình hình hoạt động với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, sau đó chuyển về Cao Bằng hoạt động.

XÂY DỰNG PHONG TRÀO CÁCH MẠNG Ở CAO BẰNG

Tại Pác Bó, Cao Bằng, Võ Nguyên Giáp tích cực tham gia gây dựng, phát triển phong trào cách mạng. Ông được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cử về các địa phương thuộc các châu Hòa An, Nguyên Bình mở nhiều lớp huấn luyện cán bộ địa phương và cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Vũ Anh giúp Liên Tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng. Ông cùng các đồng chí ra sức tuyên truyền, phát triển các tổ chức cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh, xây dựng các xã “hoàn toàn”, châu “hoàn toàn”, thiết lập chính quyền cách mạng. Năm 1942, Võ Nguyên Giáp và đồng chí Thiết Hùng được Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ phụ trách Ban xung phong Nam tiến, có nhiệm vụ mở đường từ Nguyên Bình, qua Ngân Sơn, Chợ Rã để nối liền với Chợ Chu, Đại Từ, với lời căn dặn: “Chú Văn phải chú trọng thêm quân sự, chú Hùng chú trọng thêm chính trị”.

Hoàn thành mở đường Nam tiến, Võ Nguyên Giáp trở lại Cao Bằng hoạt động, nỗ lực củng cố, xây dựng, phong trào cách mạng, đào tạo cán bộ quân sự... Tháng 7/1944, ông dự họp cùng với Liên Tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng bàn chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Đúng lúc đó, lãnh tụ Hồ Chí Minh từ Trung Quốc về Pác Bó, Người cho gọi Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh lên xã “đỏ” Nà Sác, Hà Quảng báo cáo tình hình và quyết định hoãn cuộc khởi nghĩa vì thời cơ chưa chín muồi. Người chỉ đạo Võ Nguyên Giáp lựa chọn cán bộ, đội viên thành lập lực lượng vũ trang. Ngày 21/12/1944, Võ Nguyên Giáp nhận được Chỉ thị của Bác về thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền, Giải phóng quân (VNTTGPQ) - trong đó Người nêu rõ: “Đội Việt Nam Tuyên truyền, Giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chóng có những đội quân đàn em khác. Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của Giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ nam chí bắc, khắp đất nước Việt Nam chúng ta”.

17 giờ, ngày 22/12/1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo, châu Nguyên Bình, Cao Bằng, Võ Nguyên Giáp thay mặt Đoàn thể đọc Diễn từ tuyên bố thành lập Đội VNTTGPQ, gồm 34 chiến sĩ. Ngay sau khi thành lập, ông chỉ huy Đội VNTTGPQ giành thắng lợi trong 2 trận đánh đồn Phai Khắt (25/12), Nà Ngần (26/12), mở ra truyền thống “đánh thắng trận đầu, đã ra quân là đánh thắng” của quân đội ta. Sau này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Đội quân chủ lực đầu tiên ấy, đại bộ phận là con em ưu tú của Cao Bằng (26/34 chiến sĩ). Hạt giống đỏ gieo trên mảnh đất cách mạng Cao Bằng đã nhanh chóng lớn lên thành rừng cây đại ngàn... Cao Bằng trở thành nơi khai sinh, nơi tạo nên những cơ sở ban đầu để quân đội ta từ đó lớn mạnh, trưởng thành và chiến thắng”.

NHỮNG DẤU ẤN LỊCH SỬ

Tháng 5/1945, Võ Nguyên Giáp theo lãnh tụ Hồ Chí Minh về Tân Trào, Tuyên Quang chuẩn bị cho khởi nghĩa giành chính quyền. Ông được cử làm Ủy viên Ủy ban quân sự cách mạng Bắc Kỳ, Tư lệnh Việt Nam Giải phóng quân và là ủy viên Ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng Việt Bắc. Tháng 8/1945, ông được bầu là Ủy viên BCH Trung ương, tham gia Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám thành công, ông được cử vào Thường vụ Trung ương Đảng, làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong chính phủ lâm thời. Năm 1946, ông được cử làm Chủ tịch quân sự, Ủy viên trong Chính phủ liên hiệp, Bí thư quân ủy Trung ương và là Bộ trưởng Quốc phòng kiêm Tổng chỉ huy Quân đội nhân dân và Dân quân tự vệ Việt Nam.

Sau khi quân và dân ta đánh bại cuộc tiến công lớn của Pháp vào căn cứ địa Việt Bắc do đại tướng Valluy, Tổng chỉ huy quân Pháp chỉ huy, Trung ương Đảng và Chính phủ lần đầu tiên phong quân hàm cho một số lãnh đạo và chỉ huy quân đội. Chiều ngày 25/8/1948, tại lễ thụ phong quân hàm Đại tướng cho Võ Nguyên Giáp ở An toàn khu Định Hóa, Thái Nguyên, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Nhân danh Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trao cho chú chức vụ Đại tướng để chú điều khiển binh sĩ làm tròn sứ mạng mà quốc dân phó thác cho” và trao Sắc lệnh số 110/SL, do Hồ Chủ tịch ký ngày 20/1/1948 cho Võ Nguyên Giáp, ông trở thành đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam khi mới 37 tuổi. Sau sự kiện này, một nhà báo phương Tây hỏi Chủ tịch Hồ Chí Minh: Vì sao một lúc phong nhiều tướng tá như vậy? Việc phong cấp này dựa theo những tiêu chuẩn nào? Hồ Chủ tịch trả lời: “Đánh thắng đại tá phong đại tá, đánh thắng thiếu tướng phong thiếu tướng, thắng trung tướng phong trung tướng, thắng đại tướng phong đại tướng”.

Từ tháng 6/1950, trên cương vị là Bộ trưởng quốc phòng kiêm Tổng tư lệnh - Tổng Chính ủy, Bí thư quân ủy Trung ương, Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy quân đội giành nhiều thắng lợi trong nhiều chiến dịch lớn có ý nghĩa chiến lược trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ.

Trong Chiến dịch Biên giới năm 1950, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp trinh sát thực địa, đánh giá tình hình sau đó đề nghị và được Hồ Chủ tịch chấp thuận chuyển chủ trương tấn công Cao Bằng, nơi quân địch rất đông, phòng ngự mạnh, địa hình có sông ngăn cách không thuận lợi cho tiến công, sang đánh Đông Khê, đồng thời thực hiện “công đồn, diệt viện”. Kết quả, quân ta đánh tan cứ điểm Đông Khê, bao vây, tiêu diệt viện binh từ Thất Khê kéo lên và quân địch rút từ Cao Bằng về, giải phóng hoàn toàn Cao Bằng, chiến dịch Biên giới toàn thắng.

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng ủy thác: “Tướng quân tại ngoại, trao cho chú toàn quyền quyết định”. Ngày 26/1/1954, với tài thao lược và sự quyết đoán, sáng tạo, ông đã có “quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy”, thực hiện chuyển phương châm từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh”, sang phương châm“đánh chắc, tiến chắc”, ra lệnh hoãn cuộc tiến công, cho bộ đội kéo pháo ra, lui về địa điểm tập kết. Thực hiện phương châm tác chiến mới, quân ta từng bước giành thế chủ động tiến công trên chiến trường, bao vây, tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

Trong kháng chiến chống Mỹ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng với Bộ Chính trị hoạch định những quyết sách chiến lược, lãnh đạo quân và dân ta đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ và tay sai. Sau khi chỉ đạo quân ta bất ngờ tấn công Buôn Ma Thuột, giải phóng Tây Nguyên, tiến tới giải phóng Huế - Đà Nẵng, ông đề xuất và quyết định mở chiến dịch Hồ Chí Minh, chỉ huy các mũi tiến công bằng mệnh lệnh lịch sử: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng”, thúc giục đại quân ta thừa thắng tiến lên, làm nên chiến thắng lịch sử mùa xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

VỊ TƯỚNG HUYỀN THOẠI

Sau 30 năm tiến hành chiến tranh giải phóng dân tộc, trên cương vị Tổng tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã lần lượt đánh thắng 7 đại tướng tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp và 3 đại tướng tổng chỉ huy quân đội xâm lược Mỹ. Ông là Ủy viên BCH Trung ương từ khóa II đến khóa VI, Ủy viên Bộ Chính trị từ khóa II đến khóa IV, đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VII, Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng từ năm 1955 - 1991. Với những cống hiến to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, ông được tặng thưởng 1 Huân chương Sao vàng, 2 Huân chương Hồ Chí Minh, 2 Huân chương Quân công hạng nhất, 1 Huân chương chiến thắng hạng nhất.

Trong Lời tựa cho cuốn sách ảnh về Đại tướng Võ Nguyên Giáp do Cục Thông tin đối ngoại phối hợp với Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông xuất bản nhân 100 năm Ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, nhấn mạnh:"...Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một vị tướng tài ba, một nhà cách mạng nổi tiếng, một người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một người con ưu tú của dân tộc, được nhân dân cả nước yêu mến và bạn bè quốc tế ngưỡng mộ."

Tại triển lãm ảnh về Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp tổ chức ngày 22/8/2011 tại Hà Nội, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đến dự và ghi trong sổ bút tích: "Đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người Anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Tên tuổi, công lao của đồng chí mãi mãi đi vào lịch sử của dân tộc Việt Nam, của Quân đội nhân dân Việt Nam, của những vị tướng tài ba, lừng lẫy trên thế giới. Tổ quốc, nhân dân và Đảng kính yêu mãi mãi ghi nhớ công lao của đồng chí".

Nhiều nguyên thủ quốc gia, tướng lĩnh, học giả, các nhà sử học trên thế giới đã công nhận Võ Nguyên Giáp là một thiên tài quân sự. Nhân 100 năm ngày sinh Đại tướng, trong bài viết có tiêu đề “Tướng Giáp, nhà chiến lược của tự do” trên Tạp chí Nhân đạo của Pháp, nhà báo, đạo diễn Daniel Roussel - nguyên phóng viên thường trú báo Nhân đạo tại Việt Nam trong thập kỷ 80, nhận định: “Đại tướng Võ Nguyên Giáp, huyền thoại sống ở Việt Nam - nhà chiến lược đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, kết thúc cuộc chiến tranh của thực dân Pháp; năm 1973 buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt sự xâm lược Việt Nam và năm 1975, làm tan rã quân đội “bù nhìn” miền Nam Việt Nam thống nhất đất nước. Ông được công nhận là một trong các nhà quân sự tài giỏi nhất và một nhà chiến lược chiến tranh nhân dân.”

Tướng Peter Mac Donald, nhà nghiên cứu khoa học lịch sử quân sự người Anh, đánh giá: “Từ năm 1944-1975, cuộc đời của Võ Nguyên Giáp gắn liền với chiến đấu và chiến thắng, khiến ông trở thành một trong những thống soái lớn của mọi thời đại. Với 30 năm làm tổng tư lệnh và gần 50 năm tham gia chính sự ở cấp cao nhất, ông tỏ ra là người có phẩm chất phi thường trong mọi lĩnh vực của chiến tranh. Khó có vị tướng nào có thể so sánh với ông trong việc kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính qui. Sự kết hợp đó xưa nay chưa từng có”. Tân bách khoa toàn thưcủa nước Anh (xuất bản năm 1985) trong chuyên mục giới thiệu các danh tướng thế giới từ thời cổ đại cho đến ngày nay, đã giới thiệu hai danh tướng Việt Nam là Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Tướng William Childs Westmoreland, Tư lệnh Bộ chỉ huy Cố vấn Quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam, thừa nhận: “Ông Giáp có tất cả những đức tính của một thống soái quân sự lớn, đó là sự quả đoán, tính kiên quyết, sức mạnh tinh thần, khả năng tập trung suy nghĩ và hành động, trí thông minh”. Trong cuốn sách "Chiến thắng bằng mọi giá - Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thiên tài của Việt Nam" (xuất bản năm 1997), Giáo sư lịch sử quân sự Mỹ Cecil B.Currey, khẳng định: "Trong suốt thời gian ở cương vị chỉ huy, ông (Đại tướng Võ Nguyên Giáp) đã trở thành một huyền thoại và hơn nữa, một thiên tài quân sự vĩ đại nhất của thế kỷ XX và là một trong những vị tướng vĩ đại nhất của mọi thời đại".

Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn ghi nhớ và thực hiện lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Chú Văn ạ! Làm cách mạng phải dĩ công vi thượng”“có dân là có tất cả”. Từ một thầy giáo, Võ Nguyên Giáp đã tiếp thu, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa những truyền thống tinh hoa của thế giới và dân tộc, không ngừng đấu tranh rèn luyện trong thực tiễn chiến tranh cách mạng,trở thành danh tướng được thế giới ngợi ca, kính phục, vị tướng vĩ đại, bình dị của Quân đội và Nhân dân Việt Nam anh hùng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn