Bài viết

Võ Quý Huân: từ nước Pháp trở về nhóm lửa lò cao kháng chiến

Ngày 15 tháng 11 năm 1948, lò cao thí nghiệm do kỹ sư Võ Quý Huân tham gia thiết kế tại Con Cuông cho ra mẻ gang đầu tiên, mở một dấu mốc tự chủ kỹ thuật giữa kháng chiến.

Hải Phòng25/08/2026Chi Đoàn trường TH&THCS Nguyễn Du (Tuy Đức)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngày 15 tháng 11 năm 1948, tại huyện Con Cuông, Nghệ An, một lò cao thí nghiệm đã cho ra mẻ gang đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong hoàn cảnh kháng chiến thiếu thốn đủ bề, kết quả ấy không chỉ là một thành công kỹ thuật. Nó cho thấy một đất nước còn rất trẻ có thể từng bước tự tạo ra vật liệu cần thiết cho sản xuất và quốc phòng. Người được Cục Quân giới giao nghiên cứu, thiết kế và xây dựng lò cao là kỹ sư Võ Quý Huân, một trí thức đã rời cuộc sống ổn định ở Pháp để trở về phụng sự Tổ quốc.

Võ Quý Huân sinh năm 1912, quê ở huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Ông lớn lên trong một gia đình có truyền thống cách mạng và sớm hình thành tính tự lập. Con đường học tập của ông đặc biệt ở chỗ vừa học vừa làm nhưng vẫn đạt được ba bằng kỹ sư trong các lĩnh vực cơ điện, đúc – luyện kim và kỹ nghệ. Những chuyên môn ấy về sau trở thành vốn tri thức quý giá đối với một đất nước phải xây dựng nền công nghiệp gần như từ điểm xuất phát rất thấp.

Võ Quý Huân không chỉ quan tâm đến kỹ thuật. Năm 1937, ông làm chủ nhiệm tờ “Đông Dương hoạt động” tại Vinh, một tờ báo mang tư tưởng tiến bộ. Hoạt động ấy khiến ông bị mật thám Pháp truy lùng và phải sang Pháp sinh sống, học tập, làm việc. Năm 1939, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Pháp. Ở xa quê hương, ông vừa trau dồi nghề nghiệp vừa tham gia hoạt động trong cộng đồng người Việt yêu nước, giữ mối quan tâm thường trực đối với cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc.

Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp trong chuyến đi nhằm tìm kiếm một giải pháp hòa bình và hậu thuẫn cho Hội nghị Fontainebleau. Trước khi về nước, Người gặp gỡ những trí thức Việt kiều đã thành danh và mong muốn họ đem tri thức trở về góp sức cho chính quyền cách mạng. Võ Quý Huân là một trong số những người được lựa chọn. Quyết định trở về của ông có ý nghĩa lớn hơn một lần đổi nơi làm việc: ông chấp nhận rời điều kiện nghiên cứu, sản xuất thuận lợi tại châu Âu để bước vào một đất nước vừa giành độc lập và đang đứng trước nguy cơ chiến tranh.

Chẳng bao lâu sau, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Sản xuất vũ khí đòi hỏi gang, thép và nhiều chi tiết cơ khí, nhưng nguồn vật liệu vô cùng khan hiếm. Năm 1948, Cục Quân giới thuộc Bộ Quốc phòng đề nghị Võ Quý Huân nghiên cứu xây dựng lò cao luyện gang. Luyện kim vốn là công nghệ phức tạp, cần tính toán chính xác về quặng, nhiên liệu, nhiệt độ, luồng gió và kết cấu lò. Trong điều kiện chiến khu, người kỹ sư không thể trông chờ vào dây chuyền hoàn chỉnh hay nguồn cung ổn định; kiến thức phải được chuyển hóa thành phương án phù hợp với nguyên liệu và nhân lực tại chỗ.

Mẻ gang ngày 15 tháng 11 năm 1948 tại Con Cuông là câu trả lời đầu tiên cho thử thách ấy. Thành công của lò thí nghiệm tạo cơ sở để tiếp tục hoàn thiện kỹ thuật. Đến cuối năm 1951, việc sản xuất gang theo phương pháp lò cao đã thành công ở quy mô phục vụ thực tế, đánh dấu sự hình thành của ngành luyện kim trong nền công nghiệp kháng chiến. Từ một mẻ gang nhỏ giữa núi rừng đến khả năng chủ động vật liệu là cả một quá trình thử nghiệm, sửa sai và tổ chức sản xuất bền bỉ.

Giá trị trong đóng góp của Võ Quý Huân không chỉ nằm ở sản phẩm cuối cùng. Ông đại diện cho lớp trí thức hiểu rằng công nghệ chỉ thật sự có ý nghĩa khi giải quyết được nhu cầu cấp bách của đất nước. Một bản thiết kế làm ra trong phòng nghiên cứu sẽ chưa đủ; nó phải hoạt động trong điều kiện cụ thể, với quặng và nhiên liệu có thể tìm được, bằng bàn tay của những công nhân đang làm việc giữa chiến tranh. Chính sự kết hợp giữa tri thức hàn lâm và thực tiễn ấy giúp biến một nhiệm vụ tưởng như quá sức thành kết quả có thể đo đếm và kiểm chứng.

Trong những năm công tác ở Việt Nam, Võ Quý Huân đảm nhiệm nhiều vị trí thuộc các lĩnh vực quốc phòng, công nghiệp, kế hoạch, đầu tư và giáo dục – đào tạo. Dù ở cương vị nào, dấu ấn xuyên suốt của ông vẫn là đem chuyên môn kỹ thuật phục vụ việc xây dựng năng lực tự chủ. Ông qua đời năm 1967, khi mới 55 tuổi. Sau này, Nhà nước truy tặng ông Huân chương Độc lập hạng Nhất, ghi nhận những đóng góp đối với cách mạng và nền công nghiệp nước nhà.

Câu chuyện Võ Quý Huân gợi lên một cách nhìn sâu sắc về lòng yêu nước của người trí thức. Yêu nước không chỉ được thể hiện bằng lời kêu gọi hay một quyết định trở về, mà còn bằng việc kiên trì giải từng bài toán rất cụ thể: dựng một lò luyện, tính một tỉ lệ nguyên liệu, đào tạo một người thợ, tạo ra một mẻ gang đúng yêu cầu. Những công việc tưởng như khô khan ấy lại trực tiếp củng cố khả năng tự đứng vững của đất nước.

Hơn bảy thập kỷ đã qua kể từ mẻ gang ở Con Cuông, công nghệ luyện kim đã thay đổi rất xa. Nhưng bài học từ Võ Quý Huân vẫn còn nguyên giá trị: trong thời điểm khó khăn, tri thức chỉ trở thành sức mạnh khi được đặt đúng vào nhu cầu của cộng đồng; và sự tự chủ quốc gia được tạo nên từ vô số năng lực kỹ thuật cụ thể. Ngọn lửa trong lò cao năm 1948 vì thế không chỉ nung chảy quặng. Nó còn thắp lên niềm tin rằng người Việt Nam có thể học, có thể làm và có thể tạo dựng nền công nghiệp của chính mình giữa những điều kiện khắc nghiệt nhất.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn