Khác

VÕ THỊ MINH HUỆ: BAN NGÀY DẠY TRẺ, BAN ĐÊM ĐƯA BỘ ĐỘI QUA SÔNG

Giữa những năm tháng chiến tranh ác liệt trên đôi bờ Bến Hải, có một người phụ nữ trẻ mang trong mình hai trách nhiệm đặc biệt: ban ngày chăm sóc, dạy dỗ những đứa trẻ quê hương, ban đêm cầm chèo đưa bộ đội vượt sông vào chiến trường. Bà là Võ Thị Minh Huệ, người con của làng Tùng Luật, vùng đất Vĩnh Linh, Quảng Trị. Cuộc đời bà là một lát cắt bình dị mà xúc động về những người phụ nữ đã âm thầm góp sức làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến.

Đồng Nai28/10/2026Lê Thị Minh (phường Tây Tựu)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

VÕ THỊ MINH HUỆ: BAN NGÀY DẠY TRẺ, BAN ĐÊM ĐƯA BỘ ĐỘI QUA SÔNG

Giữa những năm tháng chiến tranh ác liệt trên đôi bờ Bến Hải, có một người phụ nữ trẻ mang trong mình hai trách nhiệm đặc biệt: ban ngày chăm sóc, dạy dỗ những đứa trẻ quê hương, ban đêm cầm chèo đưa bộ đội vượt sông vào chiến trường. Bà là Võ Thị Minh Huệ, người con của làng Tùng Luật, vùng đất Vĩnh Linh, Quảng Trị. Cuộc đời bà là một lát cắt bình dị mà xúc động về những người phụ nữ đã âm thầm góp sức làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến.

Bến đò Tùng Luật - địa danh lịch sử hào hùng

Ảnh 1. Di tích lịch sử Bến đò Tùng Luật (Bến đò B), nơi bà Võ Thị Minh Huệ từng tham gia đưa bộ đội qua sông trong những năm kháng chiến chống Mỹ. Ảnh tư liệu: Báo Quân đội nhân dân.

Người cô giáo giữa miền quê tuyến lửa

Trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Vĩnh Linh là vùng đất có vị trí đặc biệt. Nằm ở phía bắc sông Bến Hải, nơi từng được lấy làm giới tuyến quân sự tạm thời sau Hiệp định Genève năm 1954, mảnh đất này phải chịu những đợt đánh phá ác liệt của chiến tranh.

Bom đạn không chỉ trút xuống những trận địa quân sự, những tuyến đường vận chuyển mà còn đe dọa cuộc sống thường ngày của các làng quê. Giữa hoàn cảnh ấy, người dân Vĩnh Linh vừa sản xuất, vừa chiến đấu, vừa tìm mọi cách duy trì việc học tập và chăm sóc thế hệ nhỏ tuổi.

Tại thôn Tùng Luật, xã Vĩnh Giang, có một người con gái trẻ tên Võ Thị Minh Huệ. Bà làm cô giáo mầm non, đồng thời tham gia lực lượng dân quân địa phương.

Nếu nhìn cuộc đời bà từ công việc thường ngày, đó là hình ảnh một cô giáo gắn bó với trẻ nhỏ. Nhưng khi đặt cuộc đời ấy trong hoàn cảnh lịch sử, người ta mới thấy hết ý nghĩa của những công việc tưởng chừng bình dị.

Giữa chiến tranh, việc chăm sóc, dạy dỗ trẻ em không đơn thuần là một nghề nghiệp. Đó còn là cách gìn giữ những điều tốt đẹp của cuộc sống, bảo vệ tuổi thơ và nuôi dưỡng niềm tin vào tương lai.

Bà Huệ đã chọn gắn bó với công việc ấy ngay tại quê hương mình. Và khi màn đêm buông xuống, người cô giáo lại đảm nhận một nhiệm vụ khác: tham gia đưa bộ đội qua dòng Bến Hải.

Hai công việc, hai không gian tưởng như hoàn toàn khác biệt, nhưng cùng xuất phát từ một tình yêu quê hương, đất nước.

Bến đò Tùng Luật – nơi những mái chèo nối liền hai bờ đất nước

Muốn hiểu câu chuyện của bà Võ Thị Minh Huệ, phải trở về với lịch sử Bến đò Tùng Luật, còn được gọi bằng mật danh Bến đò B.

Nằm bên bờ bắc sông Bến Hải, bến đò này từng là một đầu mối giao thông quan trọng của vùng Vĩnh Linh.

Sau Hiệp định Genève năm 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt. Trong hoàn cảnh ấy, sông Bến Hải không chỉ mang ý nghĩa địa lý mà còn trở thành biểu tượng của nỗi đau chia cắt và khát vọng thống nhất.

Từ những năm sau 1954, đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Bến đò Tùng Luật ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với việc vận chuyển cán bộ, chiến sĩ và hàng hóa phục vụ chiến trường.

Những chuyến đò bí mật vượt sông đã góp phần duy trì sự liên lạc, tiếp tế giữa hai bờ. Bến đò cũng gắn với hoạt động chi viện cho đảo Cồn Cỏ, nơi quân và dân kiên cường bám trụ trong những năm chiến tranh.

Trong giai đoạn 1964–1972, Bến đò B là một trong những địa điểm phục vụ vận chuyển bộ đội, vũ khí, lương thực vào chiến trường phía nam; đồng thời tham gia đưa thương binh trở ra phía bắc.

Đặc biệt, từ năm 1968 đến năm 1972, hoạt động tại bến đò diễn ra trong điều kiện chiến tranh vô cùng khốc liệt.

Để duy trì những chuyến vượt sông, cần có sự tham gia của nhiều lực lượng: dân quân, thanh niên xung kích và nhân dân các địa phương ven sông.

Giữa những con người ấy có bà Võ Thị Minh Huệ.

Bà không phải người chỉ xuất hiện trong một chuyến vượt sông đặc biệt, mà là một trong những người dân địa phương góp sức vào công việc đầy nguy hiểm, lặp lại qua những ngày tháng chiến tranh.

Sự hy sinh của họ không chỉ nằm ở những thời khắc đối mặt bom đạn mà còn ở việc chấp nhận gác lại cuộc sống riêng để phục vụ nhiệm vụ chung.

Ban ngày bên trẻ nhỏ, ban đêm giữa dòng sông

Một trong những điều khiến câu chuyện về bà Võ Thị Minh Huệ trở nên đặc biệt chính là sự song hành giữa nghề giáo và nhiệm vụ phục vụ chiến đấu.

Theo những tư liệu được ghi lại về gia đình bà, trong chiến tranh, bà không chỉ dạy trẻ mà còn tham gia nấu cơm phục vụ cán bộ cách mạng, tiếp tế, vận chuyển lương thực, vũ khí và đưa bộ đội vượt sông.

Đó là những công việc đòi hỏi sức bền, tinh thần trách nhiệm và lòng dũng cảm.

Ban ngày, bà đảm nhận công việc chăm sóc, giáo dục trẻ nhỏ. Ban đêm, khi nhiệm vụ yêu cầu, bà lại cùng những người dân quân và lực lượng phục vụ bến đò đưa chiến sĩ sang sông.

Nếu việc dạy trẻ hướng đến gìn giữ những mầm sống cho ngày mai, thì những chuyến đò lại góp phần bảo vệ chính tương lai ấy.

Trên dòng Bến Hải thời chiến, một chuyến vượt sông không đơn giản là hành trình từ bờ này sang bờ kia.

Người cầm chèo phải đối mặt với nguy cơ bị phát hiện, bị pháo kích hoặc không kích. Bộ đội và hàng hóa cần được vận chuyển trong điều kiện phải bảo đảm bí mật, an toàn và kịp thời.

Đối với những người dân quân như bà Huệ, lòng can đảm không chỉ thể hiện ở việc sẵn sàng đối diện hiểm nguy, mà còn ở sự bền bỉ thực hiện nhiệm vụ trong hoàn cảnh thiếu thốn, căng thẳng kéo dài.

Có lẽ, điều đáng trân trọng nhất trong câu chuyện ấy là bà không tách mình khỏi cuộc sống của cộng đồng. Bà vừa là cô giáo, vừa là một người dân trong làng, vừa là người tham gia kháng chiến.

Sự đóng góp của bà vì thế không gắn với một chiến công đơn lẻ, mà nằm trong những tháng năm âm thầm phục vụ chiến trường.

Một cuộc hôn nhân trong những năm tháng chia xa

Thượng tướng Trần Văn Quang – Vị tướng tài năng, đức độ

Ảnh 2. Cựu chiến binh Lê Quang Trung, chồng bà Võ Thị Minh Huệ, cùng các học sinh tại Bến đò Tùng Luật. Ảnh tư liệu: Trần Văn Toản, Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần.

Câu chuyện về bà Võ Thị Minh Huệ còn gắn liền với người chồng là cựu chiến binh Lê Quang Trung, sinh năm 1947, một người con của vùng đất Vĩnh Linh.

Ông Trung tham gia quân đội khi tròn 19 tuổi. Năm 1970, ông kết hôn với bà Huệ rồi lên đường vào chiến trường miền Nam chiến đấu.

Cuộc sống vợ chồng vừa bắt đầu đã phải đối diện với sự chia xa.

Ở chiến trường, ông Trung là người lính pháo binh, tham gia các trận đánh trong cuộc kháng chiến. Tại quê nhà, bà Huệ vừa đảm nhận trách nhiệm gia đình, vừa tiếp tục dạy trẻ và tham gia hoạt động cách mạng.

Một người chiến đấu nơi tiền tuyến, một người bám trụ ở hậu phương tuyến lửa.

Họ có chung một niềm tin: đất nước sẽ thống nhất, những gia đình ly tán rồi sẽ có ngày đoàn tụ.

Nhưng chiến tranh không hứa hẹn điều gì chắc chắn.

Trong khi ông Trung đối diện bom đạn nơi chiến trường, bà Huệ cũng phải đối mặt hiểm nguy ngay trên dòng sông quê hương.

Dòng Bến Hải khi ấy là nơi những người chiến sĩ vượt tuyến vào Nam, đồng thời cũng chứng kiến sự trở về của thương binh và những mất mát không thể bù đắp.

Những mái chèo ở Tùng Luật vì thế mang theo cả nhiệm vụ chiến đấu, niềm hy vọng và nỗi đau.

Người phụ nữ trẻ không chỉ chờ đợi ngày chồng trở về. Bằng công việc của mình, bà trực tiếp góp sức vào cuộc kháng chiến mà người chồng đang tham gia ở chiến trường phía nam.

Chính hoàn cảnh ấy làm nên chiều sâu của câu chuyện: tình yêu đôi lứa hòa vào tình yêu quê hương, đất nước; hạnh phúc cá nhân gắn liền với khát vọng hòa bình của cả dân tộc.

Những đóng góp thầm lặng làm nên sức mạnh của Bến đò B

Lịch sử Bến đò Tùng Luật đã ghi nhận những đóng góp to lớn của lực lượng dân quân, thanh niên xung kích và nhân dân địa phương.

Trong giai đoạn 1968–1972, các lực lượng phục vụ bến đò đã bảo đảm hơn 78.000 lượt thuyền qua lại, vận chuyển hơn hai triệu lượt người cùng hàng vạn tấn vũ khí, hàng hóa.

Đó là thành tích chung của nhiều lực lượng tham gia hoạt động tại bến đò, không phải thành tích riêng của bất kỳ cá nhân nào.

Những con số ấy cho thấy quy mô và tầm quan trọng của tuyến vận chuyển qua sông Bến Hải đối với cuộc kháng chiến.

Nhưng phía sau thành tích tập thể còn là số phận của từng con người.

Có người trực tiếp cầm chèo. Có người vận chuyển hàng hóa, chuẩn bị lương thực, bảo vệ bến đò, cứu chữa thương binh. Có những gia đình nhiều thế hệ cùng tham gia phục vụ chiến đấu.

Trong tập thể ấy, bà Võ Thị Minh Huệ đại diện cho hình ảnh người phụ nữ Vĩnh Linh vừa lao động, vừa chăm lo cuộc sống, vừa sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ trong hoàn cảnh chiến tranh.

Công việc của bà cũng nhắc chúng ta rằng hậu phương không phải lúc nào cũng là nơi bình yên phía sau chiến tuyến.

Tại Vĩnh Linh, hậu phương nhiều khi chính là tuyến đầu, nơi những người dân bình thường phải sống, làm việc và chiến đấu dưới bom đạn.

Bằng sự kiên cường và tinh thần đoàn kết, họ đã góp phần giữ vững những tuyến vận chuyển quan trọng, tiếp sức cho chiến trường.

Chợ Hồ Xá

Ảnh 3. Không gian di tích Bến đò Tùng Luật bên sông Bến Hải, nơi ghi dấu những chuyến vận chuyển bộ đội và hàng hóa trong chiến tranh. Ảnh tư liệu về di tích lịch sử.

Khi chiến tranh đi qua, ký ức vẫn ở lại

Ngày 30/4/1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc thắng lợi, đất nước bước vào thời kỳ hòa bình, thống nhất.

Ông Lê Quang Trung trở về quê hương, đoàn tụ với gia đình sau những năm tháng chiến đấu.

Chiến tranh đã để lại trên cơ thể ông những thương tật và trong ký ức ông những mất mát khó phai mờ.

Sau ngày thống nhất, vợ chồng ông tiếp tục lao động, chăm lo gia đình, tham gia các hoạt động xã hội và góp sức xây dựng quê hương.

Điều đặc biệt là ngôi nhà của họ nằm gần khu vực Bến đò Tùng Luật, nơi lưu giữ biết bao kỷ niệm của những năm tháng chiến tranh.

Từ năm 1986, ngôi nhà trở thành một địa điểm đón tiếp đồng đội cũ và những người tìm về vùng đất lịch sử.

Cựu chiến binh Lê Quang Trung vẫn dành nhiều tình cảm cho bến đò năm xưa. Ông thường đến khu di tích để tưởng nhớ đồng đội, chăm sóc cảnh quan và kể lại những câu chuyện chiến tranh cho thế hệ trẻ.

Trong những câu chuyện ấy có hình ảnh người vợ từng làm cô giáo mầm non, từng tham gia đưa bộ đội vượt sông giữa bom đạn.

Đến thời điểm Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần ghi lại câu chuyện vào tháng 11/2024, bà Võ Thị Minh Huệ đã qua đời.

Người phụ nữ năm nào không còn hiện diện bên dòng Bến Hải, nhưng những đóng góp của bà vẫn được nhắc nhớ qua ký ức của người thân và lịch sử địa phương.

Ngày nay, khi các thế hệ học sinh đến thăm Bến đò Tùng Luật, các em có dịp hiểu thêm về những con người đã góp sức cho hòa bình, thống nhất đất nước.

Những câu chuyện ấy giúp lịch sử không chỉ hiện lên qua các mốc thời gian hay trận đánh, mà còn qua đời sống và số phận của những người bình thường.

Một mái chèo nhỏ, một tấm lòng lớn

Năm tháng đã trôi qua, chiến tranh lùi xa, dòng Bến Hải vẫn tiếp tục chảy qua những làng quê Quảng Trị.

Bến đò Tùng Luật hôm nay là một địa chỉ lưu giữ ký ức lịch sử, nhắc nhớ về những con người từng vượt qua hiểm nguy để duy trì tuyến vận chuyển chi viện chiến trường.

Trong ký ức ấy có bà Võ Thị Minh Huệ, một người phụ nữ không nổi tiếng bởi quân hàm hay những chiến công được gọi tên riêng.

Bà được nhớ đến bởi những công việc rất đỗi gần gũi: chăm sóc trẻ nhỏ, nấu cơm phục vụ cán bộ, vận chuyển lương thực, vũ khí và chèo đò đưa bộ đội qua sông.

Nhưng chính những công việc bình dị ấy đã góp phần làm nên sức mạnh của cuộc kháng chiến.

Nếu những người lính trực tiếp chiến đấu viết nên lịch sử bằng ý chí và lòng quả cảm nơi trận tuyến, thì những người như bà Huệ cũng góp phần viết nên lịch sử bằng sự tận tụy, trách nhiệm và đức hy sinh thầm lặng.

Hình ảnh người cô giáo ban ngày bên trẻ nhỏ, ban đêm cầm chèo giữa dòng Bến Hải trở thành một biểu tượng đẹp về người phụ nữ Việt Nam trong thời chiến.

Đó là vẻ đẹp của lòng yêu nước gắn với tình yêu thương con người, của tinh thần chiến đấu song hành cùng trách nhiệm gìn giữ sự sống và nuôi dưỡng tương lai.

Có những con người đi vào lịch sử bằng những chiến công vang dội. Cũng có những con người để lại dấu ấn bằng cả một cuộc đời lặng lẽ cống hiến.

Bà Võ Thị Minh Huệ thuộc về những con người như thế.

Mái chèo năm xưa đã dừng lại, nhưng câu chuyện về người cô giáo bên dòng Bến Hải vẫn xứng đáng được gìn giữ, kể lại và trao truyền cho những thế hệ hôm nay, mai sau.

Bởi trong hành trình đi tới hòa bình, thống nhất, đất nước không chỉ được nâng đỡ bởi những chiến thắng nơi chiến trường, mà còn bởi biết bao tấm lòng âm thầm, bền bỉ như người phụ nữ Tùng Luật năm nào.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn