Anh hùng Lực lượng vũ trang

Võ Thị Sáu - Đóa hoa bất tử

Là một nữ du kích trong Chiến tranh Việt-Pháp ở Việt Nam, người nhiều lần thực hiện các cuộc mưu sát nhắm vào các sĩ quan Pháp và những người Việt cộng tác với chính quyền thực dân Pháp tại miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ.

Ninh Bình16/04/2026Phạm Bảo Ngọc (Phường tây hoa lư , tỉnh Ninh Bình)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Võ Thị Sáu - Đóa hoa bất tử

Chị sinh ra trong một gia đình nghèo, cha làm nghề đánh xe ngựa chở khách thuê đi Long Điền , Phước Hải, mẹ buôn bán bún bì chả tại chợ Đất Đỏ, từ nhỏ, chị phải phụ giúp cha mẹ để sinh kế nhai. Năm chị lên 4 tuổi, gia đình chị đã thuê một căn nhà thuộc dãy phố chợ do làng xây dựng để cho thuê mượn. Căn nhà ngày nay thuộc thị trấn Đất Đỏ, được Nhà nước Việt Nam cho phục dựng để làm nhà lưu niệm về chị.

Tham gia kháng chiến

Sau khi quân Pháp tái chiếm vùng Đất Đỏ, vào cuối năm 1945, các anh trai của chị Sáu đã thoát li gia đình, hoạt động kháng chiến cho phong trào Việt Minh . Chị đã bỏ dở việc học, ở nhà giúp mẹ cha kiếm sống và bí mật tiếp tế cho các anh đang công tác trong Chi đội Giải phóng quân của tỉnh Bà Rịa.

Năm 1946, chị theo anh trai là Võ Văn Me vào khu kháng chiến, và trở thành liên lạc viên của Đội Công an xung phong Đất đỏ; đặc biệt là trận tập kích bằng lựu đạn tại lễ kỉ niệm Quốc khánh Pháp ngày 14 tháng 7 năm 1949 tại Đất Đỏ, gây được tiếng vang lớn ở vùng Đất Đỏ. Năm 1947, chị chính thức trở thành đội viên Công an xung phong Đất Đỏ từ khi mới 14 tuổi.Từ đó, chị tham gia nhiều trận tập kích bằng lựu đạn, ám sát các sĩ quan người Pháp và những người cộng tác với thực dân Pháp bị xem là Việt gian. Theo báo Công an hành động của chị tạo được tiếng vang và sự ủng hộ của quần chúng nhân dân ở trong vùng.

Bị bắt và án tử hình

Vào tháng 12 năm 1949, trong một chuyến công tác tại Đất Đỏ, chị Võ Thị Sáu đã bị quân Pháp bắt được. Một số tài liệu khác ghi chị bị bắt vào tháng 2 năm 1950, sau khi chị và đồng đội dùng lựu đạn tập kích, làm hương chức người Việt cộng tác đắc lực với quân Pháp bị thương, ở ngay phiên chợ Tết Canh Dần tại Đất Đỏ.

Sau khi bị bắt, chị lần lượt bị đưa đi thẩm vấn và giam giữ tại các nhà tù Đất Đỏ, khám đường Bà Rịa và khám Chí Hòa. Theo báo Lâm Đồng, tháng 4 năm 1950, tòa án binh của quân đội Pháp đã đưa chị Sáu ra xét xử với tội danh làm chết một sĩ quan Pháp và 23 người Việt cộng tác với Pháp.

Vào thời điểm xử án, chị chưa tròn 18 tuổi, vì vậy các luật sư bảo vệ chị căn cứ vào điểm này để tranh biện nhằm đưa chị thoát khỏi án tử hình. Mặc dù vậy, tòa án binh Pháp vẫn tuyên án tử hình chị.[7] Bản án này đã gây chấn động dư luận, gây ra sự phản đối mạnh mẽ cả tại Việt Nam và ngay tại nước Pháp. Chính vì vậy, chính quyền quân sự Pháp không thể công khai thi hành bản án. Chị tiếp tục bị giam cầm tại khám Chí Hòa cho đến tận 23/ 1 năm 1952 thì bị chính quyền quân sự Pháp chuyển ra Côn Đảo để bí mật thi hành án tử hình khi chị đã được 19 tuổi.

Rạng sáng ngày 23 tháng 1 năm 1952, lúc khoảng 5 giờ, chị bị đưa đến văn phòng giám thị trưởng đặt trước sân Banh I để làm lễ rửa tội. Đến 7 giờ sáng,chị bị đưa đến sân Banh III phụ và bị xử bắn tại đây. Thi hài của chị Sáu được đưa ra Hàng Dương và được chôn tại huyệt đào sẵn. Trong "Sổ giám sát tử vong 1947–1954" còn lưu tại Côn Đảo, có dòng chữ ghi bằng tiếng Pháp: "Le 23 Janvier 1952: 195 G.267 Võ Thị Sáu dite CAM mort 23/1/1952 7h P.Condor Par balles..." (Tù nhân số G 267 Võ Thị Sáu bị xử bắn vào ngày 23/1/1952).

Khi giặc Pháp đưa chị ra xử bắn, với nét mặt ung dung, bước đi vững chắc, ngẩng cao đầu, cất lên bài hát Quốc tế ca, với tinh thần lạc quan cách mạng, chị đã thể hiện tinh thần bất khuất của người chiến sĩ cộng sản.

Chị Võ Thị Sáu hy sinh đã để lại sự thương tiếc vô hạn đối với đồng chí, đồng đội và đồng bào; đồng thời sự hy sinh của chị là lời tố cáo đanh thép đối với sự dã man và âm mưu hèn hạ của chế độ thực dân Pháp lúc bấy giờ.

Chị Võ Thị Sáu là người tử tù đầu tiên ở Côn Đảo cũng là người nữ tù nhỏ tuổi nhất, chị đã được Nhà nước truy tặng danh hiệu AHLL vũ trang nhân dân vào ngày 02/08/1993. Đó là tấm gương sáng của chị để lại cho chúng ta noi theo, chúng ta nguyện hết lòng ra sức phấn đấu rèn luyện về thể chất, nâng cao trình độ về mọi mặt để cống hiến cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ quê hương Đất Đỏ nói riêng và cả nước nói chung, đưa đất nước ta ngày càng phát triển phồn vinh, văn minh và giàu đẹp. lời cuối cùng, không biết nói gì hơn, tôi xin thay mặt toàn thể nhân dân Việt Nam gửi lời cảm sâu sắc đến những anh hùng, chiến sĩ cách mạng nói chung và chị Võ thị Sáu nói riêng đã anh dũng chiến đấu đến giây phút cuối cùng để bảo vệ đất nước, giữ gìn độc lập dân tộc và để cho chúng ta có cuộc sống ấm no hạnh phúc như ngày hôm nay. Và bằng cách nào đó, tôi mong rằng, mỗi cá nhân hãy cùng nhau chung tay góp sức để xây dựng một đất nước Việt Nam thật giàu mạnh để xứng đáng với công lao của các vị anh hùng. Bản thân tôi sẽ cố gắng ra sức học tập và rèn luyện để góp phần công sức nhỏ nhoi của mình xây dựng đất nước.

Cuộc đời cách mạng cùng cái chết bất khuất ở tuổi đôi mươi của người con gái Đất Đỏ trở thành huyền thoại: Người con gái trẻ măng/Giặc đem ra bãi bắn/Đi giữa hai hàng lính/Vẫn ung dung mỉm cười/Ngắt một đóa hoa tươi/Chị cài lên mái tóc/Đầu ngẩng cao bất khuất…. (Trích Truyền thuyết trên đảo Côn Sơn – Phan Thị Thanh Nhàn)

Những giờ phút cuối
Khi bị đưa ra Côn Đảo để chuẩn bị xử bắn, trước hôm bị hành hình, cô liên tục hát cho bạn tù nghe những bài ca cách mạng như Lên đàng, Tiến quân ca, Cùng nhau đi hồng binh… Khi biết cô chuẩn bị đưa ra pháp trường, các bạn tù đồng thanh hô vang: “Phản đối xử bắn Võ Thị Sáu. Phản đối! Phản đối! Đả đảo thực dân Pháp”.

Khi cô bị giải ra nơi hành hình, các bạn tù đứng dậy cùng hát bài Chiến sĩ Việt Nam để bày tỏ lòng cảm phục, tiếc thương và tiễn đưa người đồng đội ra pháp trường. Khi linh mục làm lễ rửa tội, cô từ chối và trả lời: “Tôi không có tội. Chỉ có kẻ sắp hành hình tôi đây mới là có tội”. Khi vị linh mục nói: “Trước khi chết, con có điều gì ân hận không?”, cô đã đáp lời: “Tôi chỉ ân hận là chưa tiêu diệt hết bọn thực dân cướp nước và lũ tay sai bán nước”. Khi đến pháp trường, cô nói: “Không cần bịt mắt tôi. Hãy để cho đôi mắt tôi được nhìn đất nước thân yêu đến giây phút cuối cùng và tôi có đủ can đảm để nhìn thẳng vào họng súng của các người!”. Nói xong, Võ Thị Sáu hát bài Tiến quân ca. Khi lính xử bắn lên đạn, cô ngừng hát và hô vang những lời cuối cùng: “Đả đảo bọn thực dân Pháp. Việt Nam độc lập muôn năm. Hồ Chủ tịch muôn năm!” Một chuyện khác kể, khi nhóm đao phủ bảo quỳ xuống, cô đã quát lại: “Tao chỉ biết đứng, không biết quỳ!”.

Theo đại tá Lê Văn Thiện, một cựu tù Côn Đảo, trong quyển sách “Tình đất đỏ”, dẫn lời kể của cựu tù Côn Đảo lâu năm là ông Tám Vàng, quê Trà Vinh, người đã chứng kiến buổi hành hình và tự tay chôn cất Võ Thị Sáu thì khi lính Pháp trói chị Sáu vào gốc bàng, hướng về nghĩa địa Hàng Dương. Quân Pháp lấy khăn bịt mắt nhưng chị Sáu phản đối không cho bịt, rồi chị nhìn thẳng vào bọn lính sắp bắn và hát bài “Chiến sĩ Việt Nam”, “Lên Đàng”

Sau khi quân Pháp bắn Võ Thị Sáu, ông Tám Vàng cởi dây trói cho Võ Thị Sáu, mắt cô vẫn mở, cơ thể còn ấm nóng. Chính tay ông Tám Vàng đã vuốt mắt cho cô. Và cũng vì nể phục Võ Thị Sáu, nên thay vì lấp đất chôn xác như với những tù nhân khác, ông Tám Vàng đã bí mật tìm 4 tấm ván làm hòm dã chiến để chôn cất.

Chôn cất và thờ cúng Cô Sáu

Ngay tối 23 tháng 1, kíp tù nhân làm thợ hồ ở khám 2, banh I đã tìm cách đúc một tấm bia bằng xi măng đề rõ họ tên, quê quán, ngày mất đặt ở nơi chôn cất cô. Sáng hôm sau, khi hay tin, chúa ngục Côn Đảo là Jarty đích thân dẫn lính đến đập nát tấm bia, san bằng ngôi mộ. Sáng hôm sau, ngôi mộ được đắp cao hơn và một tấm bia bằng xi măng khác lại được dựng lên. Chúa ngục Jarty ra lệnh cho giám thị trưởng Passi chỉ huy 20 lính lôi từng người tù ra đánh bằng roi mây và giam những người bị tình nghi vào xà lim. Tuy nhiên, các tù nhân khổ sai vẫn lén giấu từng nhúm xi măng để dựng lại bia, đắp lại ngôi mộ. Cứ mỗi lần bị đập bia, thì sau đó bia mộ mới lại được dựng lên. Giữa các tù nhân và những người Việt đang làm cho người Pháp tại Côn Đảo bắt đầu lan truyền những huyền thoại về Võ Thị Sáu, một người con gái chết trẻ, vốn được cho là sẽ hiển linh trong văn hóa tâm linh Á Đông. Những lời đồn đại nhanh chóng lan truyền cho rằng “Cô Sáu rất linh thiêng, không ai có thể đập phá được mộ của cô”, và những ai trực tiếp chỉ huy phá mộ thì vài hôm sau đã chết “bất đắc kỳ tử”, hoặc khùng khùng điên điên. Cũng từ đây, người trên đảo khi nhắc tới điều gì đều không thề: “Có trời đất quỷ thần”, mà thề: “Có cô Sáu chứng giám”.

Những lời đồn đại về sự linh thiêng của Võ Thị Sáu tiếp tục được lưu truyền sau khi chế độ Việt Nam Cộng hòa tiếp quản đảo từ quân Pháp và vẫn sử dụng Côn Đảo như một trại tù chính nhằm cách ly những tù nhân nguy hiểm nhất, mà số đông là tù nhân Việt Minh và quân Giải phóng. Năm 1960, một viên chức tên Tăng Tư ra Côn Đảo nhận chức Phó tỉnh trưởng tỉnh Côn Đảo, vợ ông này đang mắc bệnh nan y. Nghe chuyện về Võ Thị Sáu, ông này âm thầm lập bàn thờ Sáu trong nhà, cầu mong phù hộ cho vợ khỏi bệnh. Tăng Tư là quan chức của Việt Nam Cộng Hòa, việc thờ Võ Thị Sáu nếu bị phát giác thì sẽ bị kết tội là thờ “liệt sĩ Cộng sản”, nhưng ông này vẫn bất chấp nguy hiểm do niềm tin vào sự linh thiêng của Võ Thị Sáu. Năm 1964, Tăng Tư lên chức tỉnh trưởng, bà vợ khỏi bệnh. Vợ chồng Tăng Tư liền làm lễ tạ và gieo quẻ xin phép được trùng tu ngôi mộ của Võ Thị Sáu. Rồi vợ Tăng Tư về ngay Chợ Lớn đặt tấm bia có khắc rõ là: “Liệt nữ Võ Thị Sáu. sinh năm 1933 tại Bà Rịa, mất ngày 23/1/1952” và tổ chức buổi lễ long trọng đặt bia trên mộ chị.

Về sau còn có thêm 1 tấm bia nữa do Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam dựng nên để ghi công chị. Tổng cộng, ngôi mộ Võ Thị Sáu có tới 3 tấm bia, mỗi tấm đều gắn với một sự ghi nhận từ tâm linh cho tới lịch sử, không chỉ từ những đồng đội của chị mà còn từ chính đối phương.

Chị mãi mãi là tấm gương sáng cho các thế hệ Việt Nam noi theo!

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn