Võ Thị Sáu - Người con gái Đất Đỏ trước họng súng quân thù
Phạm Anh Thư
Có những con người dù tuổi đời còn rất trẻ nhưng đã để lại dấu ấn không thể phai mờ trong lịch sử dân tộc. Võ Thị Sáu là một người như thế. Hình ảnh người thiếu nữ Đất Đỏ với dáng vẻ bình thản, ánh mắt kiên cường và tiếng hát vang lên giữa pháp trường đã trở thành một câu chuyện được nhiều thế hệ nhắc nhớ. Chị ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, nhưng lòng yêu nước, sự bất khuất và niềm tin vào ngày mai của chị đã vượt qua giới hạn của một đời người.
Võ Thị Sáu, tên thật là Nguyễn Thị Sáu, sinh năm 1933, một số tài liệu ghi năm 1935, tại xã Phước Thọ, quận Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa, nay thuộc xã Phước Long Thọ, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Chị là người con thứ sáu trong gia đình ông Võ Văn Hợi, một người làm nghề đánh xe ngựa, và bà Nguyễn Thị Đậu, người bán bún bò. Gia đình chị có truyền thống ủng hộ cách mạng, thường xuyên làm nhiệm vụ liên lạc, tiếp tế và cung cấp thông tin cho lực lượng công an quận Đất Đỏ.
Lớn lên giữa những năm tháng đất nước chìm trong chiến tranh, Võ Thị Sáu sớm chứng kiến cảnh quê hương bị giặc chiếm đóng và người dân phải chịu nhiều đau khổ. Dù còn nhỏ tuổi, chị đã nhanh chóng thể hiện sự gan dạ, thông minh và nhanh nhẹn. Những nhiệm vụ được giao, từ đưa tin, nắm tình hình cho đến hỗ trợ lực lượng cách mạng, chị đều cố gắng hoàn thành một cách chính xác. Sau nhiều lần thử thách, năm 1947, khi mới 14 tuổi, Võ Thị Sáu được kết nạp vào Đội Công an xung phong quận Đất Đỏ.
Vóc người nhỏ nhắn nhưng chị có khả năng hoạt động rất linh hoạt. Võ Thị Sáu thường xuyên đi lại trong những vùng địch kiểm soát từ thị trấn Đất Đỏ đến Phước Lợi, Long Mỹ, Phước Hải để thu thập tin tức. Những thông tin chị mang về giúp lực lượng cách mạng chủ động hơn trong việc đối phó với quân địch. Chị từng phát hiện Sáu Thoại, một nữ gián điệp làm chỉ điểm cho Pháp, và kịp thời báo cáo với tổ chức. Tháng 7-1948, chị lại phát hiện tên Sớm, một nhân viên công an xã phản bội, đang tìm cách dẫn quân Pháp vào căn cứ của Đội Công an xung phong. Nhờ tin báo của chị, lực lượng cách mạng tránh được một cuộc tập kích nguy hiểm.
Không chỉ làm nhiệm vụ liên lạc và trinh sát, Võ Thị Sáu còn trực tiếp tham gia chiến đấu. Ngày 14-7-1948, chị mai phục rồi ném lựu đạn về phía khán đài nơi diễn ra cuộc mít tinh kỷ niệm quốc khánh Pháp do tỉnh trưởng Lê Thành Tường tổ chức tại Đất Đỏ. Sau đó, chị tiếp tục tham gia nhiều trận đánh nhằm tiêu diệt những tên tay sai, việt gian nguy hiểm. Một trong những trận đáng nhớ là cuộc tập kích vào sào huyệt của tên tổng Tòng, một kẻ khét tiếng chống phá cách mạng. Hắn bị thương nặng, khiến đám lính trong đồn khiếp sợ và không còn dám tùy tiện lùng sục như trước.
Tháng 2-1950, Võ Thị Sáu dẫn đầu một tổ chiến đấu, dùng lựu đạn tập kích và tiêu diệt hai tên Cả Day và Cả Suốt. Sau trận đánh, chị không may rơi vào tay quân địch. Khi ấy, cô gái trẻ mới khoảng 15 tuổi phải bước vào nhà tù Bà Rịa.
Những ngày tháng trong tù là quãng thời gian vô cùng khắc nghiệt. Quân địch dùng đủ cách tra tấn để khuất phục tinh thần của chị. Chúng cố tình bắt Sáu chứng kiến cảnh những người tù khác bị hành hạ nhằm gieo vào lòng cô bé sự sợ hãi. Nhưng những gì chị nhìn thấy lại khiến lòng căm thù giặc càng thêm sâu sắc. Chị tự nhủ: “Kẻ thù là một con vật ghê tởm, không thể chung sống được với chúng. Còn một phút, một hơi thở thì cũng phải chiến đấu để góp phần tiêu diệt chúng”.
Sau ba tháng, chị bị chuyển đến Khám Lớn Sài Gòn. Tại đây, chị được bố trí làm việc trong ban nấu bếp của nhà tù. Công việc tưởng như bình thường ấy lại tạo điều kiện để chị tiếp tục thực hiện nhiệm vụ mà cơ sở cách mạng bí mật trong tù giao cho: chuyển những chỉ thị, thông tin từ cơ sở đến các phòng giam.
Hoạt động của chị cuối cùng bị phát hiện bởi lời khai của một kẻ phản bội. Tháng 5/1951, thực dân Pháp đưa Võ Thị Sáu ra xét xử và tuyên án tử hình. Việc kết án một cô gái còn quá trẻ khiến chúng gặp vấn đề về hồ sơ, bởi chị mới 16 tuổi. Vì vậy, chúng sửa lại năm sinh của chị thành 1933 để phù hợp với quy định mà chúng viện dẫn.
Ngày 21/01/1952, Võ Thị Sáu bị đưa ra Côn Đảo với số tù G.267 và bị giam riêng trong xà lim Sở Cò, nay là khu vực trường mẫu giáo Măng Non, huyện Côn Đảo. Đêm 22/01/1952, trong căn phòng giam lạnh lẽo ấy, chị được Chi bộ nhà tù kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nhưng chỉ một ngày sau, buổi sáng 23/01/1952, Võ Thị Sáu phải bước đến những giây phút cuối cùng của cuộc đời.
Trước khi thi hành án, một viên cố đạo tiến đến và nói: “Trước khi con chết, cha đến rửa tội cho con. Cha cầu nguyện cho linh hồn của con được lên thiên đàng”.
Võ Thị Sáu lập tức đứng dậy, thể hiện sự phẫn nộ và dõng dạc đáp lại: “Tao là người yêu nước! Tao không có tội gì cả. Chỉ có chúng mày, quân giết người mới có tội!”
Rồi chị được đưa đến pháp trường.
Tên chánh án hỏi chị có yêu cầu gì trước khi chết. Cô gái Đất Đỏ không hề run sợ. Chị yêu cầu không bịt mắt mình và nói: “Không cần bịt mắt tôi. Hãy để cho đôi mắt tôi được nhìn đất nước thân yêu đến giây phút cuối cùng và tôi có đủ can đảm để nhìn thẳng vào họng súng của các người!”
Không để nỗi sợ hãi có cơ hội xuất hiện, Võ Thị Sáu cất tiếng hát. Đó là tiếng hát của một cô gái đang đứng trước cái chết nhưng trong lòng vẫn hướng về đất nước. Chị hát Tiến quân ca, giọng hát vang lên giữa pháp trường, át cả tiếng đọc lệnh của tên chánh án và tiếng chuẩn bị của toán lính.
Khi tên chỉ huy ra lệnh cho binh lính chuẩn bị nổ súng, chị dừng hát và cất cao tiếng hô:
“Đả đảo thực dân Pháp!”
“Việt Nam độc lập muôn năm!”
“Hồ Chủ tịch muôn năm!”
Tiếng súng vang lên, khép lại cuộc đời của người con gái mới 17 tuổi. Nhưng sự hy sinh ấy không thể khiến tiếng nói của chị biến mất. Trái lại, những lời hô vang cuối cùng tại pháp trường đã trở thành một phần ký ức không thể quên về người nữ anh hùng Đất Đỏ.
Sau cuộc hành hình, một người lính lê dương già đã bỏ ăn ba ngày. Ông đau đớn và sám hối với những tù chính trị ở công quán Côn Đảo. Ông nói về người con gái mà chính mình đã chứng kiến bước ra pháp trường: “Cô ta tin vào chính nghĩa dân tộc, bình thản đến lạ lùng, yêu đời đến phút chót, dũng khí tỏa ra cả khi ngã xuống. Đó mới chính là anh hùng”.
Tuổi 17 của Võ Thị Sáu mãi mãi nằm lại trên mảnh đất Côn Đảo. Ngày nay, mộ chị được đặt tại khu B2, Nghĩa trang Hàng Dương, nơi nhiều người vẫn tìm đến để tưởng nhớ người nữ anh hùng đã dành tuổi xuân của mình cho đất nước.
Ngày 2/8/1993, Chủ tịch Lê Đức Anh thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký quyết định số 149 XT/CTN phong tặng Võ Thị Sáu danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vì những chiến công đặc biệt xuất sắc và tấm gương kiên trung của chị.
Câu chuyện về Võ Thị Sáu cũng trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều văn nghệ sĩ. Đặc biệt, ca khúc “Biết ơn chị Võ Thị Sáu” của nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn đã đưa hình ảnh người con gái Đất Đỏ đến gần hơn với nhiều thế hệ:
“Người thiếu nữ ấy như mùa xuân, chị đã dâng cả cuộc đời, để chiến đấu với bao niềm tin, dù chết vẫn không lùi bước. Chị Sáu đã hy sinh rồi, giọng hát vẫn như còn vang dội vào trái tim những người đang sống, giục đi lên không bao giờ lui”.
Võ Thị Sáu ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, nhưng chị không ra đi trong sự sợ hãi. Chị đứng trước họng súng quân thù bằng ánh mắt bình thản, bằng tiếng hát và những lời hô vang về độc lập. Chính sự lựa chọn ấy đã khiến cái chết của một cô gái 17 tuổi trở thành biểu tượng bất tử của lòng yêu nước và tinh thần bất khuất. Từ Đất Đỏ đến Côn Đảo, câu chuyện về chị vẫn được kể lại qua nhiều thế hệ — như một lời nhắc nhở về những con người đã sẵn sàng trao cả tuổi xuân của mình cho Tổ quốc.


