Võ Thị Sáu - Nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang trẻ nhất Việt Nam
Theo Bảo tàng Lịch sử quốc gia, chị Võ Thị Sáu tên thật là Nguyễn Thị Sáu sinh năm 1933, quê ở xã Phước Thọ, quận Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa, về sau thuộc xã Phước Long Thọ, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là TPHCM). Chị là con gái thứ sáu của ông Võ Văn Hợi làm nghề đánh xe ngựa và bà Nguyễn Thị Đậu bán bún bò.
Võ Thị Sáu sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, sớm tham gia làm liên lạc, tiếp tế và cung cấp nhiều tin tức có giá trị cho công an quận Đất Đỏ. Qua nhiều lần thử thách, chị luôn hoàn thành nhiệm vụ.
Năm 1947, công an quận đã quyết định kết nạp chị vào Đội Công an xung phong quận Đất Đỏ khi mới 14 tuổi.
Với trí thông minh, dáng vóc nhỏ, nhanh nhẹn, Võ Thị Sáu đã luồn sâu vào vùng tạm chiếm từ thị trấn Đất Đỏ đến Phước Lợi, Long Mỹ, Phước Hải, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ liên lạc, nắm tình hình, cung cấp và báo cáo kịp thời cho tổ chức nhiều tin tức quan trọng, đã giúp cho công an quận Đất Đỏ có kế hoạch chủ động đề phòng và tấn công địch có hiệu quả.
Sau đó, Võ Thị Sáu tham gia nhiều trận đánh chống thực dân Pháp và lực lượng tay sai tại Đất Đỏ, nổi bật là vụ ném lựu đạn vào cuộc mít tinh ngày 14/7/1948 và các trận diệt ác, trừ gian.
Tháng 2/1950, trong một trận tập kích, chị bị bắt khi mới 15 tuổi và bị giam tại nhà tù Bà Rịa. Dù bị tra tấn, uy hiếp tinh thần, chị vẫn giữ vững khí tiết và ý chí chiến đấu.
Sau đó, chị bị chuyển về Khám Lớn Sài Gòn, bí mật làm nhiệm vụ liên lạc cho tổ chức cách mạng trong tù. Khi hoạt động bị bại lộ, chị bị đưa ra xét xử và kết án tử hình vào tháng 5/1951.
Trong tác phẩm "Tình Đất Đỏ" (NXB Công an nhân dân) có viết:
“Trước khi xử bắn, bọn chúng tập trung tại văn phòng Giám thị trưởng, trước sự chứng kiến của tên chúa đảo Jarty. Vị cố đạo làm thủ tục rửa tội, nhìn chị Võ Thị Sáu và bảo:
- Cha rửa tội cho con nhé?
Chị Võ Thị Sáu nhìn thẳng vào mặt vị cố đạo, với thái độ thẳng thắn và dứt khoát.
- Cảm ơn cha quan tâm, tôi tội gì mà rửa? Giết quân xâm lược và tay sai, không phải là tội, kẻ xâm lược đất nước tôi và tay sai mới có tội. Cha cần rửa cho họ”.
Giặc Pháp đưa chị Võ Thị Sáu ra pháp trường xử bắn.
Tên chánh án hỏi chị: “Còn yêu cầu gì trước khi chết?”. Chị nói: “Không cần bịt mắt tôi. Hãy để cho đôi mắt tôi được nhìn đất nước thân yêu đến giây phút cuối cùng và tôi có đủ can đảm để nhìn thẳng vào họng súng của các người!”.
Nói xong, chị bắt đầu cất cao tiếng hát. Chị hát bài Tiến quân ca. Khi tên chỉ huy ra lệnh cho bọn lính chuẩn bị nổ súng thì chị lập tức ngưng hát và hô vang: “Đả đảo thực dân Pháp!”. “Việt Nam độc lập muôn năm!”. “Hồ Chủ tịch muôn năm!”. Chị Sáu vẫn ngẩng cao đầu và tiếng hô cuối cùng của chị không mất đi mà vang vọng mãi đến thiên thu.
Đặc biệt, theo các ghi chép lại, sau cuộc hành hình Võ Thị Sáu, một người lính lê dương già đã bỏ ăn 3 ngày, ông ta luôn khóc than và sám hối với những tù chính trị ở công quán Côn Đảo: “Cô ta tin vào chính nghĩa dân tộc, bình thản đến lạ lùng, yêu đời đến phút chót, dũng khí tỏa ra cả khi ngã xuống. Đó mới chính là anh hùng”.
Mộ của chị hiện nay đặt tại nghĩa trang Hàng Dương, Côn Đảo.
Sau sự hy sinh của chị Sáu, có nhiều giai thoại nói về sự linh thiêng của chị. Nổi tiếng là câu chuyện được nhà báo Xuân Ba ghi lại trên Vietnamnet. Theo đó, thời điểm chị Võ Thị Sáu bị hành quyết, chúa đảo là Chánh văn phòng viễn chinh lê dương Jarty (1951- 1953). Ngay đêm ấy, kíp thợ hồ khám 2, Banh 1 đã dựng tấm bia bằng xi măng lên mộ chị Sáu. Sáng sau, chúa ngục Jarty dẫn lính ra đập tan bia và san phẳng mộ.
Nhưng ít ngày sau đó, như có phép lạ, mặc dù cắt cử việc canh gác cẩn thận, nhưng phần mộ chị Sáu vẫn vồng lên vì có người bí mật đắp. Rồi tấm bia lại xuất hiện. Jarty tiếp tục xua lính cào bằng mộ lẫn đập bia.
Tuy nhiên, tên chúa ngục một thời gian sau đã phải chùn tay. Số là trong đám lính trực tiếp đi làm việc cào mộ và đập bia mộ (có vợ con ngoài đảo), có hai tên tự dưng lăn ra bệnh, thuốc thang mấy cũng không khỏi. Không biết ai mách, vợ con họ lén mang nhang, trái cây lên mộ chị Sáu kêu cầu... Vậy là dứt bệnh!
Chuyện đó lan ra khắp đảo. Từ đó, không ai dám động vào mộ chị Sáu và tấm bia nữa. Mộ được vun cao dần lên. Những nắm đất, những viên đá của tù nhân bí mật tranh thủ đắp. Có cả hoa tươi do vài ba bữa vợ con đám lính lại lén đặt lên mộ.
Ngôi mộ của chị Võ Thị Sáu hiện nay được chăm sóc cẩn thận, khang trang, quanh năm liên tục nhiều người đến dâng hương, dâng hoa; và là điểm du lịch tâm linh nổi tiếng, thu hút đông đảo du khách thập phương đến dâng lễ.
Nhiều người lựa chọn viếng mộ chị Sáu vào khung giờ linh thiêng từ 21 - 24h đêm, thời điểm nghĩa trang Hàng Dương thanh tịnh và lung linh ánh nến.
Tấm gương Võ Thị Sáu đã trở thành biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước, tinh thần bất khuất và sự hy sinh cao cả của tuổi trẻ Việt Nam.
Dù tuổi đời còn rất trẻ, chị vẫn kiên cường trước đòn roi, tù đày, một lòng giữ vững niềm tin vào cách mạng và bình thản đối diện với cái chết. Khí phách ấy là bài học sâu sắc để thế hệ trẻ hôm nay biết sống có lý tưởng, có trách nhiệm với cộng đồng, không ngại khó khăn và luôn đặt lợi ích của đất nước, của dân tộc lên trên lợi ích cá nhân.
Cuộc đời và sự hy sinh của Võ Thị Sáu cũng trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm văn học, âm nhạc, sân khấu và điện ảnh, nổi bật là ca khúc “Biết ơn chị Võ Thị Sáu” của nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn.
"Mùa hoa lê-ki-ma nở
Ở quê ta miền Đất Đỏ
Thôn xóm vẫn nhắc tên người anh hùng
Đã chết cho mùa hoa lê-ki-ma nở..."
Lời bài hát tôn vinh sự hy sinh cao cả của người anh hùng trẻ tuổi, biến cái chết thành sự bất tử và khơi gợi lòng yêu nước. Hình ảnh hoa lê-ki-ma nở rộ đại diện cho mùa xuân, sức sống và niềm tin vào tương lai tươi sáng của đất nước
Qua năm tháng, hình ảnh người nữ anh hùng trẻ tuổi vẫn sống mãi trong lòng nhân dân, tiếp thêm niềm tin và ý chí cho các thế hệ Việt Nam.



