Võ Thị Tràng - Mẹ Việt Nam anh hùng
Cuộc đời của mẹ Võ Thị Tràng trải dài theo hai cuộc kháng chiến của dân tộc xiết bao gian khổ, hy sinh, bao đau thương dồn dập. Song ở mẹ, trong dáng hình mảnh mai, nhỏ nhắn chứa đựng một nghị lực phi thường. Mẹ đã vượt lên muôn ngàn khó khăn, thử thách để đứng vững và chiến đấu trước những nỗi đau khôn cùng: chồng và 5 người con mãi mãi ra đi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Quê mẹ ở xã Long Phước (Long Thành, Đồng Nai). Chồng mẹ là ông Nguyễn Văn Thu, một thanh niên quê ở Hải Hưng vào làm phu “công tra” ở sở cao su Phước Hòa. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, chồng mẹ trở thành cán bộ Việt Minh xã. Khi giặc Pháp trở lại xâm chiếm nước ta, chồng mẹ thoát ly ra khu căn cứ kháng chiến. Một mình mẹ âm thầm chịu đựng, tháng ngày tần tảo để nuôi 5 đứa con (4 trai, 1 gái), đứa lớn nhất mới 14 tuổi đầu, đứa nhỏ nhất chưa đầy 2 năm. Năm 1949, trong một trận càn vào vùng căn cứ, chồng mẹ bị địch bắt và mang đi mất tích. Thương chồng, căm thù giặc,vừa nuôi con, mẹ vừa tham gia công tác giao liên, tiếp tế cho kháng chiến. Một lần, do có kẻ phản bội khai báo, mẹ bị địch bắt lên đồn khảo tra, đánh đập hết sức dã man, chết đi sống lại mấy lần. Không lấy được một lời khai của mẹ, không chứng cớ, địch phải thả mẹ ra. Sau một thời gian dắt dìu con cái ra ở xóm Lò Gạch (thị trấn Long Thành) để tránh địch và buôn thúng, bán bưng nuôi con, cuộc sống gặp nhiều khó khăn, mẹ lại đưa cả gia đình lánh vào Bình Lâm (xã Lộc An). Để đỡ đần cho mẹ, hai anh Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Văn Hà xin vào làm công nhân cạo mủ tại sở SIPH. Lao động từ mờ sáng đến chiều, hai anh em vẫn thường bị bọn cai và xếp Tây hành hạ, đòn roi, chửi bới. Sẵn căm thù giặc Tây đã bắt mất người cha thân yêu của mình, và không thể chịu nổi sự hành hạ, sỉ nhục của chúng, anh Tuấn đã đánh trả thằng sếp Tây một trận rồi bỏ trốn luôn. Thế là một lần nữa, mẹ lại phải dắt dìu con cái lánh vào cao su Kho Bạc ở, xin cho các con vào làm công nhân cạo mủ. Trong các năm 1962-1964, địch gom dân lập ấp chiến lược tăng cường bắt lính, tình hình thật căng thẳng, mẹ nói với các con: “Cha các con theo cách mạng, theo kháng chiến, bị Tây bắt, chắc nó đã giết hại rồi. Nay các con đã khôn lớn, các con phải đi theo con đường của cha, nếu các con làm khác đi, mẹ sẽ buồn lòng lắm”.Các con của mẹ lần lượt thoát ly đi kháng chiến. Ngay trong năm 1963, bốn anh em lên đường: anh Nguyễn Văn Tuấn thoát ly ra khu căn cứ, sau trở thành bí thư chi bộ xã; anh Nguyễn Văn Hà (thứ ba) và anh Nguyễn Văn Nhựt (thứ tư) xung phong gia nhập lực lượng vũ trang của huyện. Tiếp đó, chị Hương Lan (thứ năm) gia nhập đoàn văn công tỉnh. Đến năm 1967, người con út của mẹ Nguyễn Văn Bửu cũng tiếp bước cha anh, tham gia vào lực lượng an ninh vũ trang. Thế là từ đó mẹ ở nhà với ba cô con dâu và mấy đứa cháu nội. Mẹ con, bà cháu đùm bọc nhau, cuộc sống tuy khó khăn thiếu thốn, lại bị địch kềm kẹp, rình rập hàng ngày, song mẹ vẫn luôn động viên con dâu lo tròn nhiệm vụ. Nhờ vậy, các con mẹ an tâm công tác, lập nhiều chiến công xuất sắc, được tặng thưởng nhiều huân chương, huy chương. Thế nhưng, chỉ trong vòng 5 năm, từ năm 1965 đến 1970, mẹ liên tục nhận những nỗi đau xé ruột: tất cả 5 người con ruột thịt và 2 con dâu của mẹ đã lần lượt hy sinh. Đầu năm 1965, chị Hương Lan bị địch giết hại khi cùng đồng đội vào công tác tại vùng tranh chấp, tiếp đó, người vợ của anh Nhựt lại trúng pháo địch trong một buổi trưa vào rừng lấy măng. Nước mắt mẹ chưa khô vì khóc con gái, con dâu, thì cuối năm ấy mẹ được tin anh Tuấn lại hy sinh trong một trận đánh vây đồn... Đến năm 1969, anh Nhựt lại tiếp tục ngã xuống trên đường chiến đấu. Mất mát, đau thương dồn dập tưởng chừng như xô mẹ ngã quỵ, nhưng không, mẹ vẫn đứng vững mặc dù dòng lệ đã cạn khô, thân hình ngày thêm gầy guộc. Mẹ lại cùng người dâu cả là chị Sanh bí mật hoạt động, tìm mọi cách giúp đỡ, tiếp tế cho cán bộ ở rừng. Vì thế đầu năm 1970, mẹ và chị Sanh lại bị địch bắt giam cầm, tra khảo đến 3 tháng mới thả ra. Ra tù, mẹ đồng ý để chị Sanh thoát ly ra ngoài hoạt động. Năm này phong trào cách mạng gặp muôn vàn khó khăn do địch càn quét, bình định ác liệt, cũng là năm mẹ chịu thêm ba nỗi đau lớn: hai người con trai còn lại và người con dâu cả (chị Sanh)lại tiếp tục hy sinh vì nhiệm vụ. Nỗi đau thương, mất mát của mẹ và sự hy sinh, cống hiến những người con cho sự nghiệp giải phóng thật to lớn, cao cả, không gì có thể so sánh. Mẹ đã được tặng Huân chương Độc lập. Mẹ được Nông trường cao su Bình Sơn, nơi gia đình mẹ ở trước kia và xã Xuân Lập (TX.Long Khánh), Tổng Công ty Cao su Đồng Nai chu cấp phụng dưỡng suốt đời. Mẹ Võ Thị Tràng đã được Nhà nước tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 394/KTCTN ngày 17/12/1994. Mẹ qua đời ngày 9/6/2007.


