Võ Văn Dánh

Đồng chí Võ Văn Dánh (thường gọi tư hiếu) sinh năm 1931 trong một gia đình nông dân nghèo tại vùng đất Gò Công. Lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, ngay từ khi còn rất trẻ, ông đã sớm giác ngộ cách mạng. Mới 14 tuổi, ông đã tham gia hoạt động cách mạng và đến năm 17 tuổi chính thức gia nhập lực lượng Vệ quốc Đoàn, bắt đầu con đường chiến đấu đầy gian khổ nhưng cũng rất đỗi vẻ vang.
Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, ông từng hai lần bị địch bắt giam. Chúng tìm mọi cách tra tấn, thậm chí đưa đồng đội và cả người em ruột của ông ra xử bắn trước mặt để lung lạc tinh thần. Thế nhưng, trước những thử thách tàn khốc ấy, ông vẫn giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cách mạng và sau đó mưu trí tìm cách trốn thoát để tiếp tục hoạt động.
Sau đình chiến năm 1954, tình hình cách mạng ở miền Nam bước vào giai đoạn vô cùng khó khăn, các cơ quan lãnh đạo phải rút vào hoạt động bí mật. Trong hoàn cảnh đó, đồng chí Võ Văn Dánh được giao nhiệm vụ bảo vệ cơ quan Tỉnh ủy Kiến Phong. Dù luôn bị địch kèm kẹp, bao vây và lùng sục gắt gao, ông vẫn kiên trì bám trụ, cùng đồng đội giữ vững an toàn cho cơ quan lãnh đạo của Tỉnh uỷ. Sau phong trào Đồng khởi, ông được phân công về Ban Tuyên huấn phụ trách nhà in.
Khi đế quốc Mỹ gây Chiến tranh cục bộ, ông tiếp tục được điều động về chỉ huy đơn vị C.279 làm nhiệm vụ bảo vệ cơ quan Tỉnh ủy. Đây là mục tiêu đánh phá trọng điểm của quân địch, thường xuyên bị càn quét, ném bom và pháo kích dữ dội.
Trước những thử thách khốc liệt của chiến tranh, đồng chí Võ Văn Dánh không chỉ là người chỉ huy mà còn là tấm gương về tinh thần lạc quan, ý chí kiên cường cho toàn đơn vị. Ông luôn chú trọng giáo dục tinh thần chiến đấu, ý thức bảo mật cho cán bộ chiến sĩ, đồng thời vận động nhân dân địa phương đùm bọc, che chở cho cách mạng. Bên cạnh đó, ông chỉ đạo đơn vị cải tạo địa hình, xây dựng công sự, trồng cây che phủ, bố trí chông mìn để bảo vệ căn cứ trước các cuộc càn quét của địch.
Năm 1966, trong một trận chống càn ác liệt, ông bị thương nặng và hư một mắt. Tuy vậy, ông vẫn kiên quyết không rời đơn vị, tiếp tục cùng đồng đội chiến đấu và giữ vững căn cứ Tỉnh ủy tại Xẻo Quýt, một địa bàn chiến lược quan trọng của cách mạng ở tỉnh Kiến Phong.
Một trong những trận chiến tiêu biểu thể hiện tài chỉ huy và tinh thần quả cảm của ông diễn ra vào ngày 06/01/1969, khi 01 đại đội quân Mỹ đổ quân tấn công vào cơ quan Tỉnh ủy đóng tại Bình Hàng Tây. Với chiến thuật “nắm thắt lưng địch mà đánh”, ông bình tĩnh chỉ huy đơn vị chờ địch tiến sát chỉ vài mét mới ra lệnh nổ súng. Dưới làn bom đạn, pháo kích dữ dội, ông cùng đơn vị bám trụ chiến đấu, đánh bật tất cả đợt tấn công của địch và bảo vệ an toàn cơ quan Tỉnh ủy. Đến tối, ông khéo léo tổ chức nghi binh, lừa địch vào hướng khác, đưa toàn bộ cơ quan Tỉnh uỷ rút lui an toàn.
Không chỉ dũng cảm trong chiến đấu, ông còn thể hiện tầm nhìn chiến lược và sự mưu trí trong nhiều trận đánh quan trọng. Ngày 04/10/1974, ông đã tổ chức phục kích thành công, đánh bại ý đồ đưa 04 đại đội địch hành quân tái chiếm đồn Gốc Khế trên địa bàn Thanh Mỹ.
Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, những đóng góp to lớn của ông và đơn vị C.279 được Đảng và Nhà nước ghi nhận. Đơn vị C.279 được tuyên dương danh hiệu Anh hùng. Năm 1978, đồng chí Võ Văn Dánh vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Trong thời bình, ông tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc khi đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng như Phó Trưởng ty Công an Đồng Tháp, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy. Dù ở bất kỳ cương vị nào, ông vẫn luôn giữ trọn phẩm chất của người chiến sĩ cách mạng trung thành, tận tụy và hết lòng vì nhân dân.
Đồng chí Võ Văn Dánh qua đời ngày 05/10/1995 và được an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh Đồng Tháp. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là minh chứng sinh động cho tinh thần yêu nước, lòng dũng cảm và ý chí kiên cường của những người con miền Nam trong thời kỳ kháng chiến.
Qua tìm hiểu về đồng chí Võ Văn Dánh, em càng hiểu rõ hơn giá trị của hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng biết bao mồ hôi, nước mắt và sự hy sinh của các thế hệ đi trước. Em tự nhủ sẽ cố gắng học tập, rèn luyện đạo đức, sống có trách nhiệm và biết ơn những người đã cống hiến cho Tổ quốc.



