VÕ VĂN TẦN – TỪ NGƯỜI THẦY LÀNG ĐẾN NHÀ LÃNH ĐẠO KIÊN TRUNG CỦA CÁCH MẠNG NAM KỲ
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đồng chí Võ Văn Tần là một trong những nhà lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng, người đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Từ một người thầy giáo làng, thầy thuốc chữa bệnh cho dân nghèo, ông đã trở thành Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ, Ủy viên Trung ương Đảng và là một trong những lãnh đạo có nhiều đóng góp quan trọng đối với phong trào cách mạng ở Nam Bộ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Đồng chí Võ Văn Tần sinh tháng 8 năm 1891 tại làng Đức Hòa, quận Đức Hòa, tỉnh Chợ Lớn (nay là xã Đức Hòa Thượng, tỉnh Tây Ninh). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo nhưng giàu truyền thống yêu nước. Từ nhỏ, ông được học chữ Nho và học nghề bốc thuốc. Khi trưởng thành, ông vừa dạy học vừa chữa bệnh cho người dân trong vùng.
Những năm tháng chứng kiến cảnh lầm than của nhân dân dưới ách áp bức của thực dân Pháp đã sớm hun đúc trong ông tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh vì độc lập dân tộc. Năm 1917, ông lên Sài Gòn làm ăn, đồng thời tìm hiểu tình hình thời cuộc và các phong trào yêu nước đang phát triển mạnh mẽ ở Nam Kỳ.
Năm 1922, ông trở về quê làm Biện làng. Một năm sau, do đứng về phía nông dân đấu tranh phản đối các chính sách thuế khóa bất công của chính quyền thực dân, ông bị bắt giam. Đây cũng là bước ngoặt quan trọng đưa ông đến với con đường hoạt động cách mạng.
Năm 1926, Võ Văn Tần tham gia Hội kín Nguyễn An Ninh, một tổ chức yêu nước có ảnh hưởng lớn tại Nam Bộ thời bấy giờ. Sau đó, ông gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập.
Khi phong trào cách mạng phát triển theo khuynh hướng vô sản, năm 1929 ông gia nhập An Nam Cộng sản Đảng. Từ đây, ông tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, vận động quần chúng tham gia cách mạng và xây dựng các cơ sở Đảng tại địa phương.
Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3-2-1930, chỉ hơn một tháng sau, ngày 6-3-1930, Võ Văn Tần đã đứng ra thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên tại làng Đức Hòa. Đây là một trong những chi bộ cộng sản ra đời sớm nhất của tỉnh Chợ Lớn lúc bấy giờ.
Với năng lực tổ chức và vận động quần chúng nổi bật, tháng 5-1930 ông được bầu làm Bí thư Quận ủy Đức Hòa. Ngày 4-6-1930, cùng đồng chí Châu Văn Liêm, Bí thư Liên Tỉnh ủy Gia Định - Chợ Lớn, ông lãnh đạo cuộc biểu tình của hàng nghìn nông dân tại quận lỵ Đức Hòa nhằm phản đối chế độ thực dân. Cuộc biểu tình bị đàn áp đẫm máu, đồng chí Châu Văn Liêm hy sinh, còn Võ Văn Tần bị truy nã gắt gao và bị thực dân Pháp kết án tử hình vắng mặt.
Từ đó, ông bước vào cuộc sống hoạt động bí mật đầy gian khổ. Cuối năm 1931, ông được giao giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Chợ Lớn thay đồng chí Lê Quang Sung bị bắt.
Trong giai đoạn 1931 - 1935, khi thực dân Pháp tiến hành khủng bố trắng đối với phong trào cách mạng Nam Kỳ, nhiều tổ chức Đảng bị phá vỡ, hàng loạt cán bộ bị bắt hoặc hy sinh. Giữa hoàn cảnh vô cùng hiểm nguy, Võ Văn Tần vẫn kiên trì bám cơ sở, bí mật đi lại giữa Gia Định, Sài Gòn, Chợ Lớn, Hóc Môn và nhiều địa phương Nam Bộ để giữ liên lạc, củng cố lực lượng, khôi phục hệ thống tổ chức Đảng.
Năm 1932, ông thành lập Liên huyện ủy Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa. Cùng thời gian này, ông tổ chức xuất bản báo Cờ Lãnh Đạo, góp phần tuyên truyền chủ trương cách mạng và phục hồi phong trào đấu tranh. Sau đó, khi giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Gia Định, ông tiếp tục chỉ đạo xuất bản báo Lao Động nhằm giáo dục đảng viên và nâng cao nhận thức chính trị cho quần chúng.
Từ năm 1933 đến năm 1934, Võ Văn Tần đi nhiều địa phương ở Nam Bộ để xây dựng cơ sở Đảng, góp phần thành lập Tỉnh ủy lâm thời Mỹ Tho và củng cố phong trào cách mạng ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ.
Tháng 11-1935, ông được bầu vào Ban Thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ. Tháng 3-1937, ông được giao trọng trách Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ và được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đến tháng 3-1938, tại Bà Điểm, Hóc Môn, ông tiếp tục được bầu vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng.
Trên cương vị lãnh đạo, Võ Văn Tần không chỉ tổ chức, chỉ đạo phong trào đấu tranh của công nhân và nông dân mà còn góp phần duy trì sự lãnh đạo liên tục của Đảng trong giai đoạn khó khăn nhất trước Cách mạng Tháng Tám.
Ngày 14-7-1940, trong khi đang họp bàn công việc tại Tân Thới Trung, Hóc Môn, ông bị thực dân Pháp bắt giữ. Sau thất bại của cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ, thực dân Pháp mở các phiên tòa nhằm đàn áp phong trào cách mạng.
Ngày 28-8-1941, tại Hóc Môn, Gia Định, Võ Văn Tần cùng các đồng chí Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai và Nguyễn Hữu Tiến bị đưa ra xử bắn.
Trước họng súng quân thù, các chiến sĩ cách mạng đã giật bỏ mảnh vải bịt mắt, hiên ngang hô vang khẩu hiệu:
“Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm!”
“Việt Nam độc lập muôn năm!”
Rồi bình thản đón nhận cái chết, thể hiện khí phách kiên cường của những người cộng sản chân chính.
Đồng chí Võ Văn Tần hy sinh ở tuổi 50, sau hơn 15 năm hoạt động cách mạng liên tục. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là biểu tượng sáng ngời về lòng yêu nước, ý chí kiên trung và tinh thần cống hiến trọn đời cho độc lập dân tộc.
Từ một người thầy làng ở Đức Hòa, ông đã trở thành một trong những nhà lãnh đạo quan trọng nhất của phong trào cách mạng Nam Bộ trước năm 1945. Ngày nay, tên tuổi Võ Văn Tần được đặt cho nhiều tuyến đường, trường học tại Long An, Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều địa phương trên cả nước. Tại quê hương Đức Hòa, tượng đài Võ Văn Tần được xây dựng để tưởng nhớ người con ưu tú đã dành trọn cuộc đời cho Tổ quốc.
Năm 2014, Bộ Chính trị chính thức xác định đồng chí Võ Văn Tần là một trong những lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng và cách mạng Việt Nam. Hơn tám thập kỷ đã trôi qua kể từ ngày ông anh dũng hy sinh, nhưng tinh thần bất khuất, lòng trung thành với lý tưởng cách mạng và cuộc đời tận hiến của đồng chí vẫn mãi là tấm gương sáng cho các thế hệ hôm nay và mai sau noi theo.
Nguyên Trực (tổng hợp)


