Anh hùng Lực lượng vũ trang

VÕ VĂN TĂNG – NGƯỜI PHÁO THỦ GAN DẠ TRÊN CHIẾN TRƯỜNG MIỀN ĐÔNG

Võ Văn Tăng sinh năm 1944, quê xã Thuận Vĩ, huyện Châu Thành, tỉnh Long An, nhập ngũ tháng 6-1963. Từ một pháo thủ trẻ, ông trưởng thành thành trung đội trưởng pháo mặt đất, Tiểu đoàn 22, Sư đoàn 5, bộ đội chủ lực miền Đông Nam Bộ. Qua 22 trận chiến đấu, theo tài liệu tuyên dương, ông trực tiếp diệt 4 xe tăng, xe bọc thép, bắn sập 10 lô cốt và diệt hơn 100 quân đối phương. Đặc biệt, trong trận Kim Long năm 1967, dù bị thương nặng, ông vẫn cùng đồng đội giữ vững trận địa và chỉ rút sau khi khẩu pháo được đưa ra an toàn. Ngày 5-9-1970, Võ Văn Tăng được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.

Tây Ninh22/08/2026Xã Thạnh Mỹ Tây (Đoàn xã Thạnh Mỹ Tây)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Võ Văn Tăng sinh năm 1944 tại xã Thuận Vĩ, huyện Châu Thành, tỉnh Long An, trong một gia đình nông dân nghèo nhưng giàu truyền thống cách mạng. Cha mẹ tham gia các đoàn thể cách mạng, anh em trong gia đình người vào bộ đội, người tham gia dân quân.

Chính môi trường ấy đã sớm hình thành trong Võ Văn Tăng tình cảm gắn bó với quê hương và khát vọng góp sức vào cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.

Tháng 6 năm 1963, khi mới 19 tuổi, Võ Văn Tăng nhập ngũ.

Con đường quân ngũ đưa ông đến với một nhiệm vụ đòi hỏi không chỉ lòng can đảm mà còn cả sự bình tĩnh, chính xác: pháo mặt đất.

Trong những năm chiến đấu sau đó, Võ Văn Tăng tham gia 22 trận. Dù ở vị trí pháo thủ hay khi đã trở thành cán bộ chỉ huy, ông đều nổi bật bởi khả năng giữ bình tĩnh trong những thời điểm ác liệt và sẵn sàng đảm nhận vị trí của đồng đội khi tình huống đòi hỏi.

Một trong những thử thách đầu tiên đến ngay trong năm 1963, tại trận Bàu Cối.

Hai đại đội biệt kích với bốn xe M113 yểm hộ tiến công vào căn cứ.

Khi ấy, Võ Văn Tăng vốn là pháo thủ số 3. Nhưng pháo thủ số 1 bị ốm, ông phải lập tức thay thế.

Đây cũng là lần đầu tiên Võ Văn Tăng trực tiếp đối đầu với xe bọc thép.

Đợt tiến công đầu tiên của đối phương bị đẩy lùi. Sau đó, họ tập trung hỏa lực, phối hợp bộ binh với bốn xe M113 mở một đợt tiến công mới.

Những chiếc xe bọc thép mỗi lúc một tiến gần.

Võ Văn Tăng không vội nổ súng.

Ông bình tĩnh chờ.

Khoảng cách tiếp tục thu hẹp.

Đến khi mục tiêu lọt vào tầm bắn thuận lợi, Võ Văn Tăng mới khai hỏa.

Phát đạn trúng mục tiêu.

Rồi phát tiếp theo.

Hai chiếc M113 bị tiêu diệt liên tiếp.

Hai chiếc còn lại quay đầu rút lui, bỏ bộ binh phía sau.

Nhưng nhiệm vụ của người pháo thủ chưa kết thúc.

Sau khi đánh xe bọc thép, Võ Văn Tăng nhận lệnh tiếp tục áp sát, chi viện cho bộ binh.

Ông sử dụng súng ĐKZ, thực hiện tư thế vác súng quỳ bắn, lần lượt đánh các hỏa điểm và lực lượng đối phương. Theo tài liệu tuyên dương, riêng trong giai đoạn này ông diệt khoảng 30 quân đối phương, góp phần tạo điều kiện cho bộ binh tiến lên.

Trận Bàu Cối trở thành một dấu mốc quan trọng đối với người pháo thủ trẻ.

Lần đầu đánh xe bọc thép, nhưng Võ Văn Tăng đã cho thấy phẩm chất sẽ theo ông trong những năm tiếp theo: càng trong tình thế khó khăn, càng phải bình tĩnh.

Bốn năm sau, phẩm chất ấy lại được thử thách trong trận Kim Long năm 1967.

Khẩu đội Võ Văn Tăng được phối thuộc chiến đấu cùng một đơn vị bạn.

Sau khi hai xe tăng đối phương bị tiêu diệt, vị trí khẩu đội bị phát hiện.

Hỏa lực lập tức tập trung đánh vào trận địa.

Giữa những loạt đạn dữ dội, pháo thủ số 1 và khẩu đội trưởng hy sinh.

Trong khoảnh khắc ấy, khẩu đội mất người chỉ huy.

Nhưng từ trước, đơn vị đã có phương án thay thế khi cán bộ thương vong.

Võ Văn Tăng lập tức lên thay khẩu đội trưởng.

Không có thời gian để do dự.

Ông cùng đồng đội nhanh chóng xác định mục tiêu, điều chỉnh thước ngắm.

Hai phát đạn được bắn đi.

Hai xe tăng bị tiêu diệt.

Sau đó, Võ Văn Tăng bị thương nặng.

Nhưng ông vẫn ở lại trận địa cùng đồng đội.

Chỉ đến khi có lệnh rút, người khẩu đội trưởng bị thương mới tổ chức đưa vũ khí ra ngoài.

Ông động viên những chiến sĩ còn khỏe mang khẩu ĐKZ rút trước.

Còn mình ở lại phía sau.

Sau khi tự băng bó vết thương, Võ Văn Tăng bò ra khỏi trận địa sau cùng.

Theo tài liệu tuyên dương, khẩu đội của ông trong trận Kim Long đã tiêu diệt 6 xe tăng, trong đó riêng Võ Văn Tăng trực tiếp diệt 2 chiếc.

Nếu trận Kim Long thể hiện bản lĩnh của Võ Văn Tăng khi bất ngờ phải thay người chỉ huy, thì trận Tân Hiệp tháng 5 năm 1968 lại đặt ông trước một thử thách hoàn toàn khác.

Lần này, đơn vị súng cối 82 mm phối hợp với lực lượng đặc công chiến đấu với một tiểu đoàn Mỹ đi càn.

Sau khi vượt qua những cánh đồng lầy lội, trời sáng trước khi đơn vị kịp rời khu vực.

Họ buộc phải trụ lại tại Tân Hiệp.

Khoảng 9 giờ sáng, một tiểu đoàn đối phương có xe tăng yểm hộ từ lộ 26 chia thành ba mũi tiến công.

Trận chiến nhanh chóng trở nên quyết liệt.

Đúng lúc ấy, khẩu súng cối của đơn vị Võ Văn Tăng bị hỏng.

Nhiều chiến sĩ thương vong.

Vũ khí chủ yếu không còn sử dụng được.

Nhưng Võ Văn Tăng và bốn đồng đội trong khẩu đội không rời vị trí.

Họ chuyển sang sử dụng súng trường, súng máy và lựu đạn, phối hợp cùng đơn vị bạn tiếp tục chiến đấu.

Từ buổi sáng đến tận 6 giờ chiều, năm người của khẩu đội vẫn bám trận địa.

Theo tài liệu, trong trận chống càn tại Tân Hiệp, lực lượng ta đã tiêu diệt hơn 100 quân đối phương.

Qua những trận đánh ấy, Võ Văn Tăng dần trưởng thành từ một pháo thủ thành cán bộ chỉ huy.

Ông không chỉ được đồng đội ghi nhận bởi khả năng sử dụng vũ khí mà còn bởi tinh thần trách nhiệm với tập thể.

Khi đồng đội hy sinh, ông thay vị trí chỉ huy.

Khi bị thương, ông vẫn giữ trận địa.

Khi phải rút quân, ông ưu tiên đưa khẩu pháo và đồng đội ra trước.

Và khi súng cối không còn hoạt động, ông cùng anh em cầm những vũ khí còn lại tiếp tục chiến đấu.

Trong suốt quá trình quân ngũ, Võ Văn Tăng được tặng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì, 13 bằng khen và 28 giấy khen; hai lần đạt danh hiệu Dũng sĩ diệt cơ giới, một lần Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú và bốn năm là Chiến sĩ thi đua.

Ngày 5 tháng 9 năm 1970, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng Võ Văn Tăng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng.

Từ người pháo thủ số 3 trong trận Bàu Cối đến người trung đội trưởng pháo mặt đất của Sư đoàn 5, Võ Văn Tăng trưởng thành qua chính những thời điểm khốc liệt nhất của chiến trường. Trong hành trình ấy, hình ảnh đáng nhớ nhất có lẽ là người khẩu đội trưởng bị thương nặng tại Kim Long vẫn yêu cầu đồng đội đưa khẩu ĐKZ ra trước, còn mình tự băng bó rồi bò khỏi trận địa sau cùng – một câu chuyện về trách nhiệm, lòng can đảm và tình đồng đội của người lính pháo binh miền Đông Nam Bộ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn