VỤ ÁN GIÁN ĐIỆP THẾ KỶ 1969: CÚ ĐẤU TRÍ KINH ĐIỂN CỦA “ÔNG CỐ VẤN” VŨ NGỌC NHẠ NGAY TRONG DINH ĐỘC LẬP
Một vụ án chính trị chấn động làm lung lay tận gốc rễ chính trường Sài Gòn và Washington. Một cú sốc kinh hoàng khiến Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bàng hoàng nhận ra những trợ lý, cố vấn thân cận nhất ngay trong Dinh Độc Lập lại là những điệp viên Cộng sản kiên trung. Đứng trước vành móng ngựa của Tòa án Quân sự đặc biệt, Thiếu tướng tình báo Vũ Ngọc Nhạ đã thực hiện một màn đấu trí vô tiền khoáng hậu, biến phiên tòa kết án thành sàn diễn ly gián ngoạn mục giữa ngụy quyền Sài Gòn và cơ quan tình báo CIA Mỹ.

Vũ Ngọc Nhạ (1928 – 2002), tên thật là Vũ Xuân Nhã, là Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và là một trong những nhà tình báo chiến lược xuất sắc nhất thế kỷ XX. Lịch sử tình báo thế giới từng chứng kiến nhiều mạng lưới tinh vi, nhưng việc một điệp viên cộng sản có thể thiết lập hẳn một lưới tình báo “chui sâu, leo cao”, thâu tóm các vị trí chủ chốt trong Phủ Tổng thống và trực tiếp làm cố vấn cho các đời Tổng thống Việt Nam Cộng hòa (VNCH) là điều chưa từng có. Sự phát lộ của mạng lưới này vào cuối năm 1969 đã dẫn đến một “Vụ án chính trị thế kỷ” làm rúng động cả Sài Gòn lẫn chính trường Washington. Trong tập hồ sơ tuyệt mật của Tổng giám đốc Cảnh sát Quốc gia ngụy quyền Sài Gòn thu được sau này, kẻ địch đã phải thốt lên kinh ngạc: “Từ trước đến nay, ngoại trừ những giai thoại giả tưởng trong tiểu thuyết trinh thám, chưa bao giờ có những tổ điệp báo thành công đến như thế”.

Vũ Ngọc Nhạ (đứng giữa) khi ở Sài Gòn.
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, theo sự phân công của tổ chức và chỉ thị trực tiếp từ cấp trên, chiến sĩ tình báo Vũ Ngọc Nhạ cùng vợ con di cư vào Nam. Với tư duy nhạy bén, ông nhanh chóng nhận ra muốn thâm nhập sâu vào giới chóp bu quyền lực Sài Gòn, con đường hiệu quả nhất là đi qua ngả Công giáo thanh niên Giáo xứ Phát Diệm – một thành trì chính trị có ảnh hưởng rất lớn tới gia đình Tổng thống Ngô Đình Diệm bấy giờ. Bằng tri thức Nho học uyên thâm, sự am hiểu sâu sắc giáo lý Thiên Chúa giáo cùng phong thái đĩnh đạc, Vũ Ngọc Nhạ nhanh chóng tạo dựng được niềm tin tuyệt đối với các chức sắc tôn giáo cao cấp và các chính trị gia. Bản lĩnh của ông thể hiện rõ nhất ở khả năng biến nguy thành cơ. Dù từng bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam tại trại giam Tòa Khâm (Huế) giai đoạn 1958 - 1961 do nghi ngờ lý lịch, ông không những không bị lộ danh tính mà còn khéo léo cảm hóa, xây dựng mối quan hệ thân tình với Ngô Đình Cẩn (em trai Tổng thống Ngô Đình Diệm) và linh mục Hoàng Quỳnh. Sau khi ra tù, bằng sự dẫn dắt của các mối quan hệ chiến lược này, Vũ Ngọc Nhạ chính thức bước chân vào chính trường Sài Gòn với vai trò một nhà tham mưu, rồi trở thành cố vấn thân cận của Ngô Đình Diệm. Sau cuộc đảo chính năm 1963, trật tự chính trị miền Nam đảo lộn, nhưng vị trí của vị “Cố vấn” này không hề lung lay. Khi Nguyễn Văn Thiệu lên nắm quyền tối cao, Vũ Ngọc Nhạ tiếp tục được trọng dụng, trở thành cố vấn thân cận của Thiệu trong các vấn đề tôn giáo và chính trị.
Năm 1965, mạng lưới tình báo chiến lược với mật danh Cụm A.22 (thuộc Phòng Tình báo Chiến lược, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam) chính thức được thành lập. Vũ Ngọc Nhạ mang mật danh Hai Long, giữ vai trò Cụm phó, trực tiếp xây dựng và chỉ đạo toàn diện mạng lưới điệp viên cắm sâu vào trung tâm quyền lực địch. Điểm độc đáo đến kinh ngạc của A.22 là phương thức hoạt động danh chính ngôn thuận, đưa những điệp viên tài năng của ta thâm nhập trực tiếp, nắm giữ các cương vị trọng yếu trong bộ máy cai trị của VNCH. Tiêu biểu có Huỳnh Văn Trọng, Phụ tá đặc biệt của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, trưởng phái đoàn VNCH đi đàm phán mua vũ khí tại Mỹ; Lê Hữu Thúy, Công cán ủy viên Bộ Chiêu hồi; Nguyễn Xuân Hòe, Công cán ủy viên Phủ Tổng thống; Vũ Hữu Ruật, Phó Tổng thư ký Đảng Dân chủ (đảng cầm quyền của Nguyễn Văn Thiệu). Với mạng lưới “bạch tuộc” vươn vòi vào tận Dinh Độc Lập, Cụm A.22 đã thu thập và chuyển về căn cứ hàng loạt tài liệu thuộc dạng tối mật, tuyệt mật của Mỹ và VNCH. Từ các kế hoạch bình định nông thôn, chiến lược Ấn định quy mô quân số, cho đến các hồ sơ nhân sự cấp cao, những nước cờ ngoại giao của Nguyễn Văn Thiệu với Washington đều bị phía cách mạng nắm rõ trước một bước.
Dù tổ chức rất chặt chẽ và kín kẽ, bước sang năm 1969, giông bão đã ập đến với Cụm A.22. Sau đòn choáng váng từ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, cơ quan tình báo Trung ương Mỹ (CIA) và Tổng nha Cảnh sát Quốc gia VNCH bắt đầu nghi ngờ có một “rò rỉ lớn” từ trung tâm quyền lực cao nhất. Mật vụ Mỹ và Sài Gòn điên cuồng tung lực lượng bủa vây, theo dõi ráo riết giới chức quanh Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Tháng 7 năm 1969, do sự phản bội của một mắt xích giao liên bên ngoài, CIA đã lần ra đầu mối dẫn vào Dinh Độc Lập. Ngày 16 tháng 7 năm 1969, Tổng nha Cảnh sát Sài Gòn đồng loạt ra quân bắt giữ Vũ Ngọc Nhạ cùng các thành viên chủ chốt của cụm A.22. Tin tức này ngay lập tức như một quả bom hạng nặng nổ tung giữa lòng Sài Gòn. Báo chí miền Nam thời điểm đó chộp lấy sự kiện này với hàng loạt những cái tít giật gân, choáng váng chạy đầy trang nhất: “Vụ án chính trị thế kỷ”, “Vụ án gián điệp lớn nhất thời đại”, “Việt Cộng thâu tóm Dinh Độc Lập”. Dư luận trong nước và quốc tế bàng hoàng khi biết rằng những người hàng ngày kề cận, soạn thảo diễn văn, hoạch định chiến lược cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lại chính là những cán bộ tình báo Cộng sản kiên trung. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu rơi vào trạng thái khủng hoảng chính trị sâu sắc, vừa tức giận vừa ê chề trước các quan thầy Mỹ khi “nuôi ong tay áo” ngay trong phòng làm việc của mình.
Ngày 28 tháng 11 năm 1969, Tòa án Quân sự đặc biệt của chính quyền Sài Gòn được mở ra tại số 3 Bạch Đằng để xét xử Vũ Ngọc Nhạ và các đồng chí trong Cụm A.22. Đây không chỉ là một phiên tòa hình sự thông thường, mà đã biến thành một cuộc đấu trí chính trị đỉnh cao, một ván bài lật ngửa vô tiền khoáng hậu giữa nhà tình báo chiến lược và bộ máy tư pháp ngụy quyền. Đứng trước vành móng ngựa, trong khi cơ quan công tố ra sức kết tội các bị cáo về tội phản quốc và làm gián điệp cho Cộng sản, Vũ Ngọc Nhạ xuất hiện với một phong thái vô cùng bình tĩnh, tự tin và ngạo nghễ. Ông bước ra tòa trong bộ quần áo lịch lãm, nụ cười luôn nở trên môi bất chấp mọi đòn tra tấn dã man suốt 3 tháng ròng rã trong ngục tối. Nhận định rõ điểm yếu cốt tử của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu là sự chia rẽ nội bộ và sự phụ thuộc hoàn toàn vào CIA, Vũ Ngọc Nhạ đã chủ động thực hiện một chiến lược bào chữa độc đáo: Ông từ chối luật sư biện hộ và cũng không thèm tự bào chữa cho các hành vi gián điệp, mà hiên ngang tuyên bố những việc mình đã làm chỉ có lịch sử mới đủ tư cách phán xét. Ông khéo léo hướng mũi dùi dư luận vào việc cơ quan tình báo Mỹ (CIA) đang cố tình can thiệp thô bạo vào chủ quyền của nền “Cộng hòa”, vu khống những người thân cận của Tổng thống để tạo cớ khống chế Nguyễn Văn Thiệu.
Chiến thuật ly gián này của Vũ Ngọc Nhạ ngay lập tức phát huy tác dụng tối đa. Phiên tòa xét xử gián điệp bỗng chốc trở thành sàn diễn phơi bày mâu thuẫn sâu sắc giữa chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và cơ quan tình báo Mỹ. Thiệu lo sợ nếu xử tử hình Vũ Ngọc Nhạ và Huỳnh Văn Trọng, điều đó đồng nghĩa với việc thừa nhận toàn bộ nội các của mình hoàn toàn bất lực và thất bại trước Cộng sản, tạo cớ cho các phe đối lập lật đổ. Đồng thời, do tính chất hoạt động đơn tuyến và nguyên tắc bảo mật tuyệt đối của mạng lưới, phía Cảnh sát Sài Gòn dù biết chắc chắn họ là gián điệp nhưng lại không thể đưa ra được những bằng chứng vật chất cụ thể chứng minh hành vi chuyển giao tài liệu mật về mật khu. Kết quả của cuộc đấu trí tại “Vụ án thế kỷ” đã đi vào lịch sử ngành tư pháp và tình báo: Không một ai trong Cụm tình báo chiến lược A.22 phải chịu án tử hình. Bất chấp sức ép đòi trừng phạt nghiêm khắc từ phía Mỹ, Tòa án quân sự đặc biệt Sài Gòn chỉ có thể tuyên phạt Vũ Ngọc Nhạ và Huỳnh Văn Trọng mức án chung thân khổ sai. Đầu năm 1970, chúng đày ông cùng các đồng chí ra nhà tù Côn Đảo.
Mặc dù bị giam cầm nơi “địa ngục trần gian” Côn Đảo, tinh thần và ý chí của người đứng đầu cụm A.22 vẫn không hề suy chuyển. Bản lĩnh của ông tiếp tục được khẳng định khi ông biến nhà tù thành trường học cách mạng, cùng các đồng chí giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cộng sản. Tháng 3 năm 1973, sau khi Hiệp định Paris được ký kết, dưới các điều khoản về trao trả tù binh chiến tranh, Vũ Ngọc Nhạ được chính quyền Sài Gòn trao trả cho phía Cách mạng tại Lộc Ninh (Bình Phước). Tuy nhiên, huyền thoại về vị “Ông Cố vấn” chưa dừng lại ở đó. Nhận thấy vỏ bọc của Vũ Ngọc Nhạ trong giới Công giáo và chính trường miền Nam vẫn còn giá trị sử dụng cao, cấp trên đã chỉ đạo ông tiếp tục quay trở lại hoạt động công khai dưới một danh nghĩa mới. Ông quay lại Sài Gòn, tiếp tục móc nối các mối quan hệ cũ, tham gia vào các hoạt động của lực lượng “Thứ ba”, góp phần đẩy nhanh sự sụp đổ và tan rã của nội các chính quyền Dương Văn Minh trong những ngày cuối tháng 4 năm 1975.
Sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, những chiến công thầm lặng của Vũ Ngọc Nhạ cùng Cụm A.22 mới dần được đưa ra ánh sáng. Với những cống hiến đặc biệt xuất sắc cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, năm 1988, ông được Đảng và Nhà nước phong hàm Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam và trao tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ngày 7 tháng 8 năm 2002, trái tim của nhà tình báo huyền thoại ngừng đập tại Thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 75 tuổi. Cuộc đời ly kỳ, đầy sóng gió nhưng vô cùng vinh quang của ông đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho văn học và nghệ thuật, tiêu biểu là tiểu thuyết lịch sử và bộ phim truyền hình kinh điển mang tên “Ông cố vấn” của nhà văn Hữu Mai. Vụ án thế kỷ năm 1969 và cái tên Vũ Ngọc Nhạ sẽ mãi mãi là một mốc son chói lọi trong lịch sử tình báo Việt Nam. Đó là biểu tượng ngời sáng của trí tuệ, lòng dũng cảm, sự trung thành tuyệt đối với Tổ quốc và khả năng sáng tạo nghệ thuật tình báo độc đáo của con người Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.



