Vũ Lăng - Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
Vũ Lăng. (4 tháng 8 năm 1921 - 23 tháng 10 năm 1988) tên thật là Đỗ Đức Liêm, một tướng lĩnh cao cấp của Quân đội nhân dân Việt Nam, hàm Thượng tướng,[1] Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.Ông là một trong những vị tướng lập được nhiều chiến công lớn trong những trận đánh quan trọng của Quân đội nhân dân Việt Nam, ông là người đã có công lao to lớn trong chiến thắng của chiến dịch Tây Nguyên mà trận Buôn Ma Thuột là điển hình. Ông quê quán tại xã Ngũ Hiệp, Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội.
Vũ Lăng sinh ra trong một gia đình yêu nước và sớm giác ngộ cách mạng, khoảng năm 1937 – 1938, trong khi đang học thành chung năm thứ 2 thì ông bị đuổi học, từ đó đồng chí phải tự kiếm sống bằng cách dạy học tư, sau đó về làm y tá ở nhà thương Phủ Lý, Trong thời gian 1943-1945 đồng chí đã được đồng chí Hoàng Quý giác ngộ cách mạng và được giới thiệu tham gia vào đảng Dân Chủ. Năm 1943, khi mật thám Pháp đưa Trần Tử Bình về nhà thương để điều trị, ông đã cố tình tạo điều kiện cho ông Bình bỏ trốn, nhưng không thành công. Ông cũng tham gia cướp kho thóc Nhật và cướp chính quyền tại Phủ Lý.
Sau ngày Việt Nam thống nhất, năm 1977 ông được giao trọng trách Giám đốc/ Viện trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Học viện Lục quân Đà Lạt(1977-1988).- Trên cương vị mới, ông đã cùng Đảng ủy và Ban Giám hiệu Học viện lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Học viện đi vào nền nếp và ngày càng vững mạnh về mọi mặt. Với kinh nghiệm về xây dựng quân đội đã tích lũy được trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ông đã có nhiều đóng góp trong nghiên cứu, đào tạo, bổ túc cán bộ tiểu đoàn, trung đoàn và phát triển khoa học quân sự. Ông đã chỉ đạo biên soạn hệ thống tài liệu, đáp ứng kịp thời đầy đủ cho công tác huấn luyện của tám chuyên ngành binh chủng lục quân. Những tài liệu được Hội đồng khoa học Học viện thông qua có nhiều ý kiến đóng góp và kết luận rất sâu sắc của ông, góp phần rất quan trọng trong nghiên cứu, giảng dạy ở Học viện và cả các nhà trường Quân đội sau này. Ông là người đầu tiên đề xuất vấn đề bồi dưỡng, đào tạo nghiên cứu sinh khoa học quân sự, vào năm 1985 tại Học viện Lục quân, lần đầu tiên trong quân đội đã tiến hành tổ chức bảo vệ Luận án Phó tiến sĩ Khoa học Quân sự cấp Quốc gia cho 8 chuyên ngành binh chủng lục quân. Ông là 1 trong 6 tướng lĩnh đầu tiên của quân đội được phong hàm Giáo sư Khoa học Quân sự cấp II (Quyết định số 107-HĐBT ngày 11/9/1986).Ông đã chỉ đạo cán bộ Học viện, cùng với sự giúp đỡ của lực lượng công binh Quân đoàn 3 đã đào đắp nên hồ Chiến Thắng, đảm bảo nguồn cung cấp nước không những đủ cho Học viện mà còn cả cho thành phố Đà Lạt. Ngoài nhiệm vụ giáo dục, huấn luyện, nghiên cứu khoa học, ông rất chú ý xây dựng Học viện trên tất cả mọi mặt, quan tâm đến công tác hậu cần và đời sống của học viên và cán bộ chiến sĩ Học viện. Trong thời điểm khó khăn sau chiến tranh, đời sống gặp khó khăn, ông đã chủ trương cho Học viện đẩy mạnh tăng gia sản xuất để tăng thu nhập cho học viên và cán bộ chiến sĩ, ông là người đầu tiên khởi xướng việc cấp cho cán bộ CNV mỗi năm 2 tháng lương cơ bản Trong suốt những năm công tác tại Học viện Lục quân, ông đã đem hết khả năng, trí tuệ của mình để cùng với Ban Giám hiệu Học viện triển khai nghiên cứu thành công nhiều công trình, đề tài cấp Bộ, cấp Nhà nước, có giá trị cao góp phần xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.
Ông mất năm 1988 tại Liên Xô, hưởng thọ 67 tuổi.


