Vũ Lăng – cán bộ, chỉ huy quân sự trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp.
Thượng Tướng Vũ Lăng: Vị Tướng Quân Sấm Sét Giữa Đại Ngàn Tây Nguyên
Trong thế hệ những tướng lĩnh kiệt xuất của Quân đội Nhân dân Việt Nam, Thượng tướng, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Vũ Lăng (1921 – 1988) nổi lên như một biểu tượng của lối đánh tiến công kiên quyết, mưu trí và đầy táo bạo. Với tên thật là Đỗ Đức Liêm, người con ưu tú của vùng đất ngàn năm văn hiến Thanh Trì, Hà Nội đã dành trọn cuộc đời mình để đi qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, khắc ghi tên mình vào những chiến công oanh liệt nhất của lịch sử dân tộc, mà đỉnh cao là chiến thắng Tây Nguyên huyền thoại.
Sinh năm 1921, chàng thanh niên Đỗ Đức Liêm sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng và tham gia hoạt động từ những ngày tiền khởi nghĩa. Trong những ngày mùa đông năm 1946 khói lửa, ông là một trong những chiến sĩ tự vệ kiên cường, ôm bom ba càng quyết tử để bảo vệ từng tấc đất của thủ đô Hà Nội. Trải qua cuộc kháng chiến chống Pháp với trận Điện Biên Phủ lẫy lừng Nam châu, ông lột xác trở thành một chỉ huy quân sự dày dặn kinh nghiệm. Tuy nhiên, đỉnh cao trong cuộc đời binh nghiệp của tướng Vũ Lăng chính là giai đoạn ông được điều động vào chiến trường miền Nam, đảm nhiệm cương vị Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên (B3) vào những năm tháng quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Tây Nguyên có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng, được ví như "mái nhà của Đông Dương". Hiểu rõ tầm vóc của địa bàn này, trên cương vị Tư lệnh, tướng Vũ Lăng đã dốc hết tâm huyết và tài năng để xây dựng lực lượng, tổ chức thế trận. Đầu năm 1975, trong chiến dịch Tây Nguyên, ông cùng Bộ Tư lệnh mặt trận đã thực hiện một nghệ thuật nghi binh đỉnh cao, đánh lạc hướng hoàn toàn sự chú ý của quân địch về phía Pleiku và Kon Tum, để rồi tung một đòn sấm sét, bất ngờ giáng thẳng vào "gót chân Achilles" của địch tại Buôn Ma Thuột.
Trận Buôn Ma Thuột dưới sự chỉ huy tài tình của ông đã diễn ra với tốc độ thần tốc, táo bạo và giành thắng lợi giòn giã chỉ trong vòng hơn một ngày đêm. Chiến thắng bước ngoặt này không chỉ làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng thủ của địch, buộc chúng phải tháo chạy hỗn loạn khỏi Tây Nguyên, mà còn tạo ra cục diện chiến lược hoàn toàn mới, mở toang cánh cửa cho quân ta tiến về giải phóng Sài Gòn, thống nhất đất nước. Tài thao lược và bản lĩnh can trường của vị tướng gốc Hà Nội đã trở thành bài học kinh điển trong nghệ thuật quân sự Việt Nam.
Hòa bình lập lại, Thượng tướng Vũ Lăng tiếp tục cống hiến trí tuệ cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo quân sự trên cương vị Giám đốc Học viện Lục quân, truyền lại ngọn lửa yêu nước và tư duy chiến thuật cho các thế hệ sĩ quan mai sau. Với những chiến công đặc biệt xuất sắc, ông đã được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân.
Thượng tướng Vũ Lăng ra đi vào năm 1988, nhưng danh tiếng và cốt cách của ông vẫn sống mãi cùng non sông. Bài viết hôm nay trên "Câu chuyện thời hoa lửa" là lời tri ân thành kính gửi tới một danh tướng kiệt xuất, người đã đem hào khí của Thăng Long hòa vào gió ngàn Tây Nguyên, dệt nên khúc khải hoàn ca bất tử của thời đại Hồ Chí Minh.



