VŨ LĂNG TRONG NHỮNG NGÀY CHIẾN ĐẤU Ở LIÊN KHU 1 HÀ NỘI (THÁNG 12 NĂM 1946)
VŨ LĂNG TRONG NHỮNG NGÀY CHIẾN ĐẤU Ở LIÊN KHU 1 HÀ NỘI (THÁNG 12 NĂM 1946)
VŨ LĂNG TRONG NHỮNG NGÀY CHIẾN ĐẤU Ở LIÊN KHU 1 HÀ NỘI (THÁNG 12 NĂM 1946)
Đại tá TRỌNG HÀM
Thượng tướng Vũ Lăng đã vĩnh biệt chúng ta ở tuổi sáu mươi bảy (8-1921 – 10-1988). Ông sống chưa tới tuổi bảy mươi cổ lai hy. Nhưng cuộc đời binh nghiệp với bốn mươi ba năm tuổi quân (1945 – 1988), ông đã để lại những chiến công trong chiến đấu chống giặc Pháp và giặc Mỹ, có thể nói là những võ công oanh liệt. Một vị tướng trưởng thành từ lò lửa chiến tranh, cứu nước, kinh qua nhiều cương vị khác nhau đều hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, thực sự là một trong các vị tướng tài xưa nay hiếm.
Tôi đã sống chiến đấu cùng ông trong những ngày đầu kháng chiến ở Liên khu 1 Hà Nội (tôi ở khu Đông Thành, ông ở Đông Kinh Nghĩa Thục), sau đó là chiến trường Việt Bắc với các chiến dịch Sông Thao, Tây Bắc, Biên Giới...
Như chúng ta đã biết, từ ngày 19 tháng 12 năm 1946 đến ngày 17 tháng 2 năm 1947, với hai tuần trăng (sáu mươi ngày đêm), quân và dân Hà Nội đã đối mặt với đội quân đông mạnh gấp nhiều lần lực lượng quân ta. Đội quân tinh nhuệ bậc nhất của nước Pháp lúc bấy giờ, đã khoe đánh tan quân phát xít Hít-le, giải phóng Pa-ri với truyền thống bộ binh, pháo binh giỏi ở châu Âu từ thời Na-pô-lê-ông để lại kinh nghiệm.
Sự thật là khi đã giáp nhau với giặc từng bờ tường, góc phố, với dao găm, mã tấu, súng trường, súng kíp, chai xăng ngâm crếp, chúng ta đã gây tổn thất lớn lao cho quân địch. Trung đoàn Thủ đô đã tổ chức cuộc rút lui thần kỳ vượt vòng vây dày đặc của địch qua sông Hồng gồm một ngàn hai trăm chiến sĩ có cả thương bệnh binh, phụ nữ và em nhỏ đã về tới Thủ đô kháng chiến Việt Bắc an toàn, quân không mất một người, vũ khí không mất một khẩu. 60 ngày đêm máu lửa đã thành con số ý nghĩa của lịch sử chiến đấu và chiến thắng.
Ý nghĩa đó nói lên sự chiến đấu anh hùng của quân dân ta ở Thủ đô ngày đầu kháng chiến¹.
Đồng chí Vũ Lăng là đại đội phó đơn vị Vệ quốc đoàn bấy giờ có nhiệm vụ bảo vệ Bắc Bộ Phủ và một số nơi thuộc khu vực Hoàn Kiếm. Ngày 20 tháng 12 năm 1946, giặc Pháp đã đưa số quân mạnh để tiến công Bắc Bộ Phủ, Nhà hát lớn... Ở Bắc Bộ Phủ, chúng mở sáu đợt xung phong trong suốt hai mươi giờ liền, có xe tăng, cơ giới yểm trợ, bắn đổ đạn trước mỗi đợt tiến công.
Sau năm đợt chiến đấu ác liệt, xe tăng, cơ giới địch đã bốc cháy vì bom ba càng, chiến sĩ ta được lệnh rút về phía gầm cầu Long Biên... (BT).
(Trang 40) ...sau vì đạn gần hết; chỉ để lại bộ phận nhỏ với hai quả bom cài sẵn kíp nổ có dây giật. Quả bom thứ hai giật không nổ, lập tức chính trị viên Lê Gia Định (người quê ở xã Trúc Lâm, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, sống từ nhỏ ở Hà Nội) đã xông lên dùng búa đập kíp nổ. Chưa kịp đập bom, anh bị trúng đạn hy sinh. Với tiếng thét và dáng điệu cầm búa xông lên của anh, địch hoảng hốt tháo chạy bắn loạn xạ về phía sau.
Chiếm được Bắc Bộ Phủ, địch chết một trăm hai mươi hai tên lê dương, bốn xe tăng, thiết giáp, ba xe vận tải và một xe díp bốc cháy. Ta hy sinh bốn mươi lăm đồng chí. Trận đánh của đơn vị bảo vệ Bắc Bộ Phủ đã trở thành trận đánh phòng ngự mở đầu nổi tiếng về tinh thần quyết tử và mưu trí dũng cảm diệt địch.
Sau hơn ba tuần lễ chiến đấu quyết liệt, ngày 14 tháng 1 năm 1947, tại rạp hát Tố Như số 72 Hàng Bạc đã tổ chức buổi lễ động viên tinh thần quyết tử.
Cán bộ, chiến sĩ đại biểu cho các tiểu đoàn 101, 102 và 103 đều nghiêm nghị chăm chú nhìn về phía trước là bàn thờ Tổ quốc. Chiếc đỉnh đồng lớn đen bóng tỏa khói hương trầm, khói lan tỏa như mây bay, như rồng uốn khúc. Những ngọn nến lung linh rực sáng soi lá quốc kỳ cờ đỏ sao vàng. Tấm vải nỉ đỏ treo trên tường làm nền nổi bật đường viền lụa vàng óng ánh.
Lớp đứng, lớp ngồi, sắp hàng trước mặt những khẩu súng máy hoặc đeo trên vai khẩu súng trường với tư thế có sẵn sàng chiến đấu, vì quanh đó vẫn có tiếng súng nổ.
Mỗi cán bộ chiến sĩ đều quàng cổ chiếc khăn quàng đỏ thắm. Đó là màu lá cờ đỏ sao vàng nhỏ, họ tự may sắm để sẵn sàng đổ máu nhuộm thêm màu cờ Tổ quốc.
(Trang 41) Trong khung cảnh đó, một cán bộ mảnh khảnh, râu rậm chưa kịp cạo, bước tới phía lễ đài. Người đó là tiểu đoàn phó tiểu đoàn 103: Vũ Lăng. Với giọng nói to, dứt khoát từng câu, từng tiếng của cán bộ quân sự, giọng có ngân vang tiếng chuông, ông nói:
"Kẻ thù đánh chớp nhoáng, đánh úp chiếm Thủ đô chúng ta trong vài ngày. Chúng ta đã trả lời chúng bằng những chiến công trên từng ngả đường từng góc phố. Gần một tháng trôi qua. Chúng ta vẫn trụ vững tại Liên khu 1 này. Trước mũi súng xe tăng, đại bác, trong vòng vây lưới lửa bom đạn, chúng ta đã tập hợp nhau thành Trung đoàn Liên khu 1 tiếp tục đánh địch. Cả nước hướng về Hà Nội, cả nước tự hào vì có chúng ta đang chiến đấu, cả nước đang dõi theo chúng ta...".
Rồi như hé nở nụ cười, với đôi mắt rực sáng, ông nói: "Chúng ta thề quyết tử! Chúng ta tự khai tử cho chính chúng ta quyết tâm bảo vệ Thủ đô".
Vô cùng xúc động, vô cùng tự hào. Những người có mặt tại buổi lễ hướng về dòng chữ khẩu hiệu lớn: "Thà hy sinh tất cả, không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ".
Chúng tôi nghĩ đến ngày 6 tháng 1 năm 1947 đã diễn ra buổi lễ ở Liên khu 1, ở nhà 51 Hàng Bồ, hợp nhất các tổ chức Trung đoàn Thủ đô thống nhất.
Trung đoàn trưởng là Hoàng Siêu Hải, người dân tộc ở Hòa An, Cao Bằng thuộc đơn vị Quân giải phóng. Tại buổi lễ hợp nhất này, đại đội phó Vũ Lăng giữ chức tiểu đoàn phó tiểu đoàn 103 - Tại buổi lễ đó đã nhất loạt đeo sao tròn thay cho sao vuông. Chúng tôi đã nhận lá cờ thêu dòng chữ vàng "TỔ QUỐC NHỚ ƠN" của Hội phụ nữ cứu quốc tỉnh Hải Dương và đặc biệt có lá cờ của Ủy ban kháng chiến Nam Bộ tặng thêu hai chữ QUYẾT TỬ.
Giờ đây, lễ quyết tử lại diễn ra tại rạp hát Tố Như - nơi đã diễn ra những vở diễn nêu cao tinh thần "diệt giặc, chống ngoại xâm", tinh thần yêu nước TRUNG, HIẾU, TIẾT, NGHĨA bất khuất.
Nhiều đồng chí, sau này đã nói về cảm tưởng của mình là đã được xem vở kịch thơ diễn ở Nhà hát lớn. Đoạn cuối của vở kịch là cảnh Thái tử Đan nước Yên tiễn Kinh Kha qua sông Dịch Thủy sang Tần để hành thích bạo chúa Tần Thủy Hoàng. Vua và các quân thần mặc tang lễ màu trắng để tiễn đưa.
Còn chúng tôi đang làm lễ thề quyết tử cho chính mình giữa khói lửa chiến đấu với chiếc khăn quàng đỏ rực màu cờ.
Sau ngày 27 tháng 1 năm 1947, Hồ Chủ tịch đã gửi thư động viên giao nhiệm vụ cho chúng tôi, trong đó có câu vô cùng xúc động: "Các em là đội quyết tử, các em quyết tử để cho Tổ quốc quyết sinh...".
Địch mở những đợt tiến công quyết liệt hòng tiêu diệt Trung đoàn Thủ đô ở Liên khu 1, trên địa bàn ngày càng bị thu hẹp, chỉ còn khoảng vài cây số vuông. Đã có những trận đánh quyết liệt. Chúng chiếm dãy nhà bên số chẵn, ta kiên quyết giữ từng nhà ở dãy số lẻ đối diện với địch. Quân ta đánh nhau giáp lá cà với chúng ở Hàng Thiếc, khu Đông Thành. Rồi ở Trường Ke và nhà Sô-va, khu Đông Kinh Nghĩa Thục và Đồng Xuân, ta chờ địch đến gần, tiêu diệt chúng bằng lựu đạn, súng trường và cả bằng lưỡi lê, mã tấu, dao găm.
Khi tiến đánh nhà Sô-va ở phía bờ sông, chúng dùng pháo bắn thẳng phá tường để vào nhà. Tại nhà Sô-va, ta chỉ có lực lượng nhỏ.
Chúng quét một loạt súng như đổ đạn chiếm được tầng dưới. Chúng ta rút lên tầng hai dùng chai xăng crếp đốt cháy cầu thang gỗ không cho chúng đánh lên và kiên quyết cố thủ. Lực lượng quá ít, chiến sĩ trinh sát Nguyễn Xuân Nho và các đồng chí khác đã đánh đu vào cành cây si, men theo phía bắc nhà Sô-va để rút.
Được tin, tiểu đoàn phó Vũ Lăng trực tiếp chỉ huy trung đội dự bị nhanh chóng luồn ngách phố vào thẳng nhà Sô-va. Trận đánh quyết liệt, có thêm lực lượng bạn hỗ trợ, trung đội dự bị này đã nhanh chóng chiếm được vị trí có lợi để đánh địch. Lựu đạn quân ta ồ ạt ném vào nơi có địch trong nhà, chúng hoảng hốt tháo chạy. Hơn bốn mươi tên địch chết và bị thương, một xe tăng, một thiết giáp bị đốt cháy.
Ngay tối ngày 6 tháng 2 năm 1947, Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp đã gửi điện, khen ngợi tinh thần dũng cảm mưu trí chiến đấu của các chiến sĩ đã chiếm lại nhà Sô-va - Một vị trí cửa ngõ quan trọng giữ vững liên lạc tiếp tế với hậu phương.
Hôm sau ngày 7 tháng 2 năm 1947, đồng thời với việc đánh Trường Ke ở phía bắc cột Đồng Hồ, chúng ném bom đánh phá các khu vực Hàng Nón, Hàng Thiếc, Hàng Mành, Hàng Hòm, Bát Đàn, Hàng Quạt... làm sụp đổ nhiều nhà. Địch dùng vòi phun xăng để đốt cháy dãy phố. Ta dùng chậu hứng xăng để tối đốt cháy vị trí địch.
Còn ở Trường Ke (tức trường Trần Nhật Duật hiện nay phía bờ sông), dù địch đã quyết tâm đánh chiếm - vị trí này cùng với Sô-va đều là các chốt giữ cửa ngõ đảm bảo liên lạc tiếp tế với hậu phương - nhưng chúng vẫn bị thất bại.
Dịch cho xe tăng bịt tất cả các ngả ta có thể rút hoặc tăng viện. Tám lần địch dội đạn và hò hét "a-la-xô"² đều bị đánh lui, ta vẫn giữ vị trí Trường Ke.
Thắng lợi của những trận phản kích đánh địch ở nhà Sô-va và Trường Ke là chiến công chói lọi và tinh thần dũng cảm chiến đấu, đồng thời có ý nghĩa về nghệ thuật chiến đấu phòng ngự ở thành phố với cách đánh sáng tạo, dùng lực lượng ít vẫn thắng quân địch đông hỏa lực mạnh. Ta đã chặn địch không đánh được sở chỉ huy tiểu đoàn 103 đóng ở ngõ Phất Lộc, giữ vững con đường tiếp tế với hậu phương - nơi sau này, đêm ngày 17 tháng 2 năm 1947 cả một trung đoàn hơn một ngàn người đã rút qua gầm cầu Long Biên để rồi vượt sông Hồng về hậu phương lớn chiến khu Việt Bắc.
Quá trình diễn biến chiến đấu quyết liệt như ở nhà Sô-va - Trường Ke, tiểu đoàn phó Vũ Lăng đích thân chỉ huy đã chiến thắng oanh liệt³.
Ông là vị tướng trưởng thành từ lò chiến đấu Thủ đô và là vị tướng nhiều tài năng của quân đội cách mạng thời đại Hồ Chí Minh.
Nhưng ông còn là một người rất "con người", sống hòa mình với chiến sĩ, thấm thiết tình đồng đội, trực tính nhưng vẫn được cấp trên, cấp dưới quý mến.
Ông là người trung với nước, hiếu với dân và là người rất chung thủy. Mối tình đầu của ông gắn bó với quyết tử quân Nguyễn Thị Liên. Chị là học sinh đệ tứ bậc trung học, con một gia đình công chức gia phong nền nếp, nhà ở phố Mã Mây. Đoàn quân sau khi rút khỏi Thủ đô đã tới làng Cần Kiệm, Thạch Thất, Sơn Tây để có cuộc tổ chức biên chế lại. Kẻ ở lại vùng đồng bằng, người lên chiến khu Việt Bắc. Chị Liên, cô gái mười chín tuổi đẹp người đẹp nết đã tặng Vũ Lăng một quyển nhật ký dày gần hai trăm trang. Vũ Lăng tặng lại khẩu súng ngắn chiến lợi phẩm để chị tiếp tục chiến đấu bảo vệ mình. Nhưng rồi chính khẩu súng ngắn đó, vì quá nghe tin đồn Vũ Lăng tử trận trong chiến đấu với binh đoàn Bô-phrê, chị đã "cùng đi theo anh" giữa lúc canh khuya ngay tại Ân Thi, Hưng Yên. Chị Hoa - bạn đời của Vũ Lăng rất trân trọng mối tình đầu của chồng mình đã cất giữ tấm ảnh của chị Liên, tuy đã bạc màu nhiều chỗ.
Đồng chí Lê Thọ là chính trị viên tiểu đoàn 54, đã từng có mặt trong các trận đánh ở Đại Từ - Phú Minh - Hạ Bằng, Đại Bục..., lại vốn giàu tình cảm và rất hợp với Vũ Lăng, vẫn thường cưỡi ngựa sóng đôi, người đứng đầu hàng quân, người đứng cuối hàng quân hồi còn ở Việt Bắc. Đầu năm 2000, ông đã cùng cán bộ bạn bè Vũ Lăng tổ chức viếng thăm mộ chị Liên tại Ân Thi. Chúng tôi đặt những bông hoa trắng trên mộ chị. Một cán bộ cũ của Trung đoàn Thủ đô đã viết bài thơ "Hoa Sen Trắng" tặng hương hồn anh Lăng và chị Liên.
T.H.
1. Nhà báo Hoàng Phong, trong buổi sinh hoạt sử học tưởng niệm Thượng tướng, Giáo sư Vũ Lăng kể rằng: "Tháng 12 năm 1946, là cán bộ biên tập báo Cứu quốc, tôi được lệnh rút ra ngoài. Đồng chí Vũ Lăng đã tổ chức và chỉ huy đưa chúng tôi từ đình Phất Lộc ra cột Đồng Hồ, ra gầm cầu Long Biên..." (BT). 2. Tiếng Pháp "À l' assant" - xung phong! 3. Sau đó Vũ Lăng đã được giao nhiệm vụ tiểu đoàn trưởng.


