Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

VỤ MẤT VALI HÀNH LÝ

Câu chuyện khá hay

Ninh Bình16/04/2026NGUYỄN VĂN HƯỞNG (TRƯỜNG TIỂU HỌC NINH GIANG)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Vào đầu những năm 90, quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ được thúc đẩy mạnh mẽ, các cuộc gặp của lãnh đạo cấp cao các đoàn hai bên diễn ra thường xuyên, và một trong những yếu tố then chốt được cả Hoa Kỳ và Việt Nam đặt ra để tiến đến thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước, đó chính là tìm kiếm những người mất tích và còn sống sau chiến tranh. Việc này được phía Mỹ đặt ra rất cấp thiết. Mỹ coi đây là vấn đề quan trọng, là cơ sở để Mỹ có thể mở mối bang giao với Việt Nam. Phía Mỹ nhiều lần đề nghị đại diện Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao Việt Nam cùng phía Mỹ thực hiện hợp tác POW/MIA về tìm kiếm con người sau chiến tranh.

Ngày 9 và 10/8/1993, cuộc họp ba bên về hợp tác POW/MIA được tổ chức tại Honolulu, Hawaii, với các cuộc thảo luận cấp chính sách vào ngày 9, tiếp theo là các cuộc họp kỹ thuật vào ngày 10.

Các chuyến công tác POW/MIA giữa Mỹ và Việt Nam diễn ra trong bối cảnh hậu chiến chứa đựng nhiều yếu tố phức tạp về chính trị, ngoại giao và tâm lý của nhân dân hai nước… Do đó, các hoạt động an ninh của Việt Nam và Hoa Kỳ, để thúc đẩy thiết lập quan hệ giữa hai nước, đặc biệt chú trọng trong giai đoạn này.

Ngày 9 và 10/8/1993, cuộc họp ba bên về hợp tác POW/MIA được tổ chức tại Honolulu, Hawaii, với các cuộc thảo luận cấp chính sách vào ngày 9, tiếp theo là các cuộc họp kỹ thuật vào ngày 10. Thể theo đề nghị của phía Hoa Kỳ, chính phủ Việt Nam chấp nhận gửi một đoàn cấp cao sang Hoa Kỳ để đàm phán về vấn đề này, nhằm xem xét một cách cụ thể, trực tiếp để biết được những nhu cầu bức thiết từ phía Mỹ, để báo cáo Đảng và Nhà nước, đưa ra quyết định cuối cùng.

Từ ngày 7/8/1993, Thứ trưởng Ngoại giao Lê Mai đã dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam tới tham dự cuộc họp. Tôi cũng có mặt trong phái đoàn, lấy bí danh Lê Minh Trần, và được đoàn giới thiệu là Trợ lý Bộ trưởng Bộ Nội vụ lúc đó. Đoàn đến Hawaii làm việc và cư trú tại khách sạn Hilton Hawaiian Village, việc đón và bố trí làm việc do Bộ Chỉ huy quân sự Thái Bình Dương, trực tiếp là Trung tướng Needham phụ trách.

Đoàn đại biểu Hoa Kỳ do ông Kent Wiedemann, Trợ lý đặc biệt của Tổng thống và là thành viên của Hội đồng An ninh Quốc gia dẫn đầu, Phó Trợ lý Ngoại trưởng Kenneth Quinn và Quyền Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ về các vấn đề POW/MIA Edward Ross đại diện cho các bộ phận tương ứng của họ. Ngoài ra còn có sự tham dự của đoàn đại biểu Lào. Tại đây, ba bên đã nhất trí hợp tác điều tra các trường hợp người Mỹ mất tích ở khu vực biên giới, bao gồm các hoạt động của nhóm Hoa Kỳ – Lào và Hoa Kỳ – Việt Nam.

Trong hai ngày làm việc, phía Mỹ đã nêu ra một thực trạng rằng ở Mỹ hiện nay, phong trào cựu chiến binh đang nhận được sự quan tâm lớn từ dư luận, cùng những phản ứng mạnh mẽ từ người dân. Họ yêu cầu Quốc hội, Chính phủ Hoa Kỳ phải sớm giải quyết vấn đề quân nhân chết trận và mất tích trong cuộc chiến tranh Đông Dương.

Qua đó, phía Việt Nam cũng nhận thấy rõ nhu cầu từ phía Mỹ, hiểu được tâm trạng nhân dân Mỹ. Những phong tục của người dân Mỹ có những nét tương đồng với người châu Á, họ muốn được mang hài cốt con em họ về với gia đình. Mỹ đã phải chi một khoản tiền khổng lồ cho số quân nhân mất tích và chết trận.

Qua đàm phán, đoàn Việt Nam thấy rõ hơn về cách đặt vấn đề POW/MIA không hàm ý dùng vấn đề này để gây áp lực cho Việt Nam, mà là nhu cầu thật sự từ phía Hoa Kỳ, đồng thời cũng là nguyện vọng của nhân dân Mỹ, họ gây áp lực với Quốc hội, Chính phủ Hoa Kỳ.

Bên cạnh đó, hai bên cũng thảo luận nhiều về vấn đề kĩ thuật hợp tác giữa hai bên. Phía Mỹ mong muốn chính quyền Việt Nam lập đội tìm kiếm hỗn hợp để tìm kiếm, khai quật hài cốt binh lính Mỹ ở hai miền, đặc biệt là ở phía Bắc Việt Nam. Họ cũng kiến nghị được đọc các loại tài liệu của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an lưu trữ, tham khảo, để phục vụ cho việc tìm kiếm người mất tích.

Trong các cuộc thảo luận, phía Mỹ cũng nêu ý kiến nghi vấn rằng phía Việt Nam vẫn đang giữ một số lính Mỹ còn sống. Họ nói rằng, đây là tài liệu họ nghiên cứu được từ các tài liệu của cơ quan tình báo của Liên Xô. Tuy nhiên, phía Việt Nam khẳng định Việt Nam không giam giữ tù binh hay bất kì người Mỹ nào. Tù binh đã được trao trả cho phía Mỹ ngay sau khi Hiệp định Paris về Việt Nam có hiệu lực năm 1973. Tất cả thông tin Mỹ yêu cầu là sai sự thật.

Ngoài ra, phía Mỹ cũng đưa đoàn Việt Nam tới một trung tâm giám định hài cốt của binh lính Mỹ chết trận. Tại đây có một không gian rất rộng rãi, giống như một khu trưng bày, các bộ xương trung tâm này do Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đảm nhận, đoàn được giới thiệu tất cả hài cốt lính Mỹ chết trận đều được đưa vào đó đối chiếu tỉ mỉ. Phía Mỹ giới thiệu với đoàn Việt Nam rằng những khó khăn họ đã và đang gặp là không phải tất cả hài cốt đều đã được gia đình người Mỹ chấp nhận, mặc dù đã có đủ tên, tuổi và các thông tin khác đã chính xác.

Họ đưa ra ví dụ một trường hợp lính Mỹ đã tìm thấy hài cốt, nhưng vợ anh không chấp nhận. Người vợ của anh lính này yêu cầu cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng phải chứng minh được hàm răng là của anh thì mới chấp nhận. Do đó, cuộc khai quật sau phải tiếp tục tìm kiếm, khi thấy được chiếc răng, mang về đối chiếu, kết quả đúng là người lính này thì người vợ của anh mới chấp nhận. Mặc dù anh đã mất, song xét theo khoảng thời gian kể từ khi anh sang Việt Nam với cấp bậc Trung sĩ, mặc dù người lính này đã tử trận, nhưng không tìm thấy bằng chứng là đã chết, nên Bộ Quốc phòng Mỹ vẫn phải phong hàm. Khi tìm được chiếc răng, người lính này đã có quân hàm Đại tá.

Cá biệt gia đình của lính Mỹ chết trận biết rằng con em mình đã tử trận, nhưng muốn kéo dài thời gian báo tử để được hưởng chính sách của Chính phủ Mỹ.

Những người phụ trách trung tâm giám định hài cốt cũng trao đổi với phái đoàn Việt Nam, giám định hài cốt rất phức tạp, phải qua rất nhiều công đoạn nhận diện công phu, tốn kém nhiều chi phí, mới có thể trao trả hài cốt về đúng gia đình. Đoàn Việt Nam hiểu được những khăn lớn đối với nước Mỹ, cũng là vấn đề mà Chính phủ Mỹ thực sự coi trọng” vào thời điểm này.

Những chiếc vali bị mất tại khách sạn

Kết thúc đàm phán, đoàn trở lại khách sạn, chúng tôi được ông Needham, người phụ vấn đề POW/MIA phía Mỹ, đón tiếp rất chu đáo, cẩn thận. Riêng tôi lại được bố trí riêng một phiên dịch viên là một Trung sĩ người Việt làm việc ở Trung tâm Thái Bình Dương. Qua trò chuyện, tôi được biết, anh là người Thuận Hải, gia đình di cư sang Hawaii sau năm 1975. Giờ anh là lính Mỹ chuyên nghiệp, có một vợ và hai con. Anh kể chi tiết về cuộc sống tại Mỹ của mình. Nhờ ưu đãi do phục vụ trong quân đội, nên hàng tháng anh được nhận phiếu ưu đãi mua hàng giảm 30%, được cấp miễn phí thuê nhà ở và được thuê lại ô tô luân chuyển giá rẻ của những người lính trước. Với mức lương Trung sĩ, anh vẫn đủ trang trải cuộc sống cho cả gia đình mình, một vợ hai con.

Phái đoàn Việt Nam dùng bữa cơm thân mật với các Phái đoàn Mỹ, Lào sau cuộc họp POW/MIA, tháng 8 năm 1993

Buổi tối tôi về nghỉ ở khách sạn, một lúc sau người phiên dịch đến phòng tôi và bày tỏ mong muốn được đưa tôi đi mua sắm ở trung tâm thương mại tầng hầm của khách sạn. Tôi có hỏi thêm thì được biết, phía anh Lê Mai không thấy ai được bố trí phiên dịch cả. Khi ấy tôi đã linh cảm rằng phía Mỹ đang muốn gì ở tôi. Với linh cảm nghề nghiệp, tôi nghĩ đây là một cuộc chơi, phù hợp với nghề nghiệp nên tôi đã nhận lời đề nghị của người phiên dịch.

Sau khi cất hành lý cẩn thận, tôi cùng anh phiên dịch viên xuống siêu thị của khách sạn, chúng tôi bắt đầu trò chuyện sâu hơn về các vấn đề nội bộ của Mỹ. Nhưng tôi cảm nhận được rằng người phiên dịch khá ngây thơ. Anh ta không biết nhiều về tình hình của Mỹ, chỉ tập trung kể chuyện về dân di cư trong cộng đồng mình, những người sang Hawaii, họ mưu sinh bằng nghề đánh cá, trồng dứa… đời sống của họ cũng tạm ổn.

Khi xuống tầng hầm siêu thị, tôi có quan sát kĩ các lối đi ra cầu thang máy lên phòng tôi ở khách sạn. Tôi cũng khảo sát lại 2 – 3 lần nữa để chắc chắn rằng mình sẽ thoát ra theo hướng nào để che mặt anh phiên dịch. Độ gần 20 phút sau, tôi đã thoát được đeo bám của phiên dịch viên, rồi lặng lẽ đến bấm thang máy lên phòng tôi, và mở cửa bước vào phòng. Theo kinh nghiệm, tôi mở cửa ra nhưng không vội bước vào ngay, mà quan sát thấy những dấu giày rất to trên thảm. Máy ảnh và vali của tôi cũng biến mất. Đúng như dự đoán, tôi biết chắc sẽ diễn ra cảnh tượng này, nên không tiến vào hẳn mà giữ nguyên hiện trạng.

Tôi lặng lẽ qua phòng anh Lê Mai để cùng anh trao đổi. Chúng tôi kéo ra hiên, tôi nói rằng, đây chắc chắn là “trò chơi” từ phía Mỹ. Tôi không biết phía Mỹ sẽ còn gây ra những sự vụ gì nữa, nên cũng muốn thăm dò phản ứng từ họ. Tôi đề xuất với anh Lê Mai cách giải quyết, và chúng tôi thống nhất là sẽ báo với khách sạn.

Chỉ khoảng độ 3 phút sau, có 2 – 3 người Mỹ đến gặp tôi qua phiên dịch của đoàn Việt Nam, lúc đó là anh Hà Kim Ngọc (sau này là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam và Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam tại Hoa Kỳ). Họ nói là nhân viên trực phòng và lễ tân tới giải quyết sự việc. Tôi mở cửa cho họ, và chỉ cho họ thấy tôi chưa từng bước vào phòng. Đây cũng không phải dấu giày của tôi vì vết giày để lại trên thảm to hơn cỡ giày của tôi và báo họ biết, vali tôi để đã biến mất, và đề nghị khách sạn cho biết nguyên nhân.

Các nhân viên này tỏ ra mất bình tĩnh, tôi thấy rõ sự run rẩy trên bàn tay họ. Họ nói rằng, sự việc này có thể do nhầm lẫn mà ra. Tôi yêu cầu khách sạn phải tìm cho được vali, đồ đạc của tôi, và đưa ra lời giải thích cụ thể, đồng thời báo cho người quản lý khách sạn và đại diện phái đoàn POW/MIA của Mỹ biết sự việc.

Trung tướng Needham, đại diện phái đoàn POW/MIA của Mỹ (phải) và ông Lê Minh Trần (chính là Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an, bấy giờ đang giữ chức Cục trưởng Cục An ninh ).

Khoảng 20 phút sau, Trung tướng Needham xuất hiện và báo là Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương đã bao vây toàn bộ khách sạn để bảo vệ chúng tôi, đồng thời truy tìm kẻ trộm. Ông giải thích và khẳng định: “Ngài yên trí, chúng tôi sẽ tìm ra vali của ngài”. Cũng khoảng 20 phút, các nhân viên khách sạn mang vali đến trả tôi. Tôi yêu cầu phía Mỹ phải lập biên bản về sự việc này, và nửa đùa nửa thật nói rằng, nếu tôi bị mất tiền trong vali thì các ngài phải đền. Thực tế, trong đó chỉ có vài trăm đô công tác phí do cơ quan cấp cho chuyến đi. Tôi nói vậy để tăng mối lo lắng cho khách sạn này. Họ xin lỗi liên tục, và phân trần rằng do dọn nhầm phòng của một phái đoàn từ Bộ Quốc phòng Indonesia vừa trả phòng sáng nay. Chiếc vali đã được nhân viên khách sạn thu dọn, do phái đoàn quân sự của Indonesia cũng vừa “check-out”.

Tôi không chấp nhận lời giải thích đó, và cho rằng một khách sạn hiện đại bậc nhất ở một khu vực và một đoàn khách quan trọng như vậy, mà lại có thể nhầm lẫn đến thế. Tuy nhiên, tôi vẫn nhận vali. Tiếp rồi, tôi gọi điện cho anh Lê Mai để thảo luận cách ứng xử sự việc. Cuối cùng, chúng tôi thống nhất rằng sẽ tiếp tục yêu cầu phía khách sạn đưa ra lời giải thích rõ ràng hơn về sự việc lần này, nhưng không gây khó cho khách sạn.

Sau khi nhân viên khách sạn đã đi khỏi phòng tôi ở, tôi mở vali kiểm kê thì thấy đồ đạc bên trong không mất gì, nhưng hơi lộn xộn. Quần áo không đặt đúng vị trí như tôi đã sắp xếp. Sở dĩ tôi yêu cầu họ giải trình, vì bản thân tôi đã xếp thứ tự trên dưới của từng món đồ trong vali. Tôi hiểu một ai đó đã hành động vội vã nếu không sắp xếp các đồ dùng trong vali như tôi đã sắp đặt. Song tôi thừa biết cái mà ai đó cần tìm không phải là đồ dùng cá nhân của tôi. Tài liệu làm việc tôi luôn để trong túi áo, mang theo người.

Phía khách sạn thông báo rằng họ sẽ điều tra thông tin chi tiết và báo lại kịp thời, nhưng qua nửa đêm vẫn không thấy động tĩnh gì. Sự việc vẫn chưa dừng lại ở đó. Sáng ngày 11 tháng 8, khi Thứ trưởng Lê Mai đang trở về phòng sau bữa sáng, chính anh Mai đã trông thấy nhân viên dọn phòng đang mang cặp của mình đến phòng An ninh. Khi bị chặn lại, nhân viên đó mới cuống cuồng giải thích rằng mình nhầm lẫn, tưởng là phòng của khách mới “check-out” và vali đó bị khách để quên nên mang trả”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn