Anh hùng Lực lượng vũ trang

Vũ Ngọc Diệu – Trắc thủ ra-đa mưu trí, dũng cảm, làm chủ kỹ thuật

Vũ Ngọc Diệu (1948), hạ sĩ, trắc thủ ra-đa Đại đội 14, Trung đoàn 290, Sư đoàn 373, Quân chủng Phòng không – Không quân. Trong 3 năm chiến đấu, đồng chí phát hiện chính xác 456 tốp máy bay địch, góp phần bắn rơi nhiều máy bay Mỹ; có sáng kiến chống nhiễu, làm chủ cả máy mới và máy cũ, dẫn đường cho không quân ta chiến đấu hiệu quả. Ngày 22/12/1969, đồng chí được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Lai Châu01/07/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Vũ Ngọc Diệu, sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê ở xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Hưng, nhập ngũ tháng 9 năm 1966. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là hạ sĩ, trắc thủ ra-đa đại đội 14, trung đoàn 290, sư đoàn 373, Quân chủng Phòng không - Không quân, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trong 3 năm chiến đấu ở vị trí trắc thủ ra-đa, Vũ Ngọc Diệu đã mưu trí, dũng cảm, cảnh giác phát hiện 456 tốp máy bay địch chính xác, kịp thời, không hề sai, sót, lọt, chậm, góp phần cùng các đơn vị chiến đấu ở Nghệ An bắn rơi trên 300 máy bay giặc Mỹ, bảo vệ mục tiêu. Đồng chí có nhiều công nghiên cứu chống nhiễu tổng hợp thành công, phát huy sáng kiến dùng máy cũ phục vụ dẫn đường cho không quân đánh thắng, khi bị thương vẫn dũng cảm tham gia chiến đấu.


Tháng 4 năm 1967, cùng trung đội trưởng phiên ban, Vũ Ngọc Diệu bình tĩnh, kiên nhẫn suy nghĩ, tìm cách khắc phục nhiễu do địch gây ra, phát hiện một máy hay trinh sát vào Đô Lương, thông báo kịp thời cho trung đoàn bảo vệ Đô Lương chủ động bắn rơi chiếc RA.5C này, trước khi chúng gây tội ác.


Tháng 7 năm 1967, trận địa bị địch đánh phá, đồng đội bị thương vong, Vũ Ngọc Diệu vẩn theo dõi phát hiện được mục tiêu, báo cáo về sở chỉ huy đầy đủ, chính xác, phục vụ cho đơn vị hỏa lực bắn rơi 1 máy bay Mỹ.


Tháng 11 năm 1967, trung đội chuyển sang dùng máy P.8 là loại máy cũ, tham số kỹ thuật thấp, khó phát hiện địch từ xa, không thể hỗ trợ cho không quân đánh địch được. Đồng chí đi sâu nghiên cứu tinh năng tác dụng của máy, tìm hiểu cách sử dụng, thao tác và tự rèn luyện đến mức sử dụng thành thạo, địch vào còn cách 200 ki-lô-mét, Vũ Ngọc Diệu đã phát hiện được và báo cáo chính xác, kịp thời về sở chỉ huy, thông báo cho các đơn vị bạn chiến đấu bắn rơi máy bay địch. Việc làm đó góp phần giải quyết tư tưởng coi thường máy cũ, lôi cuốn anh em trong trung đội đi sâu vào học tập, làm chủ kỹ thuật.


Trong 2 ngày 7 và 8 tháng 5 năm 1968, địch tổ chức những đợt đánh lớn vào khu vực Vinh, Bến Thủy, Đô Lương. Vũ Ngọc Diệu phụ trách số 1 đã cùng đồng chí số 2 làm việc hết sức khẩn trương, quyết không để địch tập kích bất ngờ. Từ cự ly 200 ki-lô-mét, tổ đồng chí phát hiện địch, báo cáo cho các đơn vị hỏa lực chuẩn bị chiến đấu và thị xã Vinh báo động kịp thời. Địch ném bom cạnh trận địa, máy bị rung, Vũ Ngọc Diệu vẫn bình tĩnh chỉnh máy, bám sát địch, phục vụ cho đơn vị bảo vệ thị xã bắn tan xác 1 máy bay Mỹ khi chúng vào đến vùng trời Vinh.


Ngày 16 tháng 6 năm 1968, đại đội được lệnh cơ động, vừa tháo dây trời và máy thu thì máy bay địch đến. Cấp trên quyết định cấp tốc dùng máy P.8 và P.15 dẫn đường cho không quân đánh địch trên vùng trời Vinh - Đô Lương. Vũ Ngọc Diệu và 2 người nữa được giao nhiệm vụ này. Với quyết tâm "dẫn đi là chiến thắng, dẫn về là an toàn", các anh em khẩn trương thao tác, nhưng khi mở máy thi gặp phải nhiễu ở cường độ 3 che kín màn huỳnh quang, sóng cố định mất gần hết, dù hết sức tập trung tinh lực cũng không sao phát hiện được. Rất tin ở khả năng chống nhiễu của máy P.8, Vũ Ngọc Diệu đề nghị cho đổi số và sử dụng biện pháp chống nhiễu tổng hợp. Quả nhiên nhiễu giảm dần, hai loại máy hợp đồng chặt chẽ, thông báo liên tục, dẫn đường cho không quân ta vào gần địch hạ 2 máy bay Mỹ trên vùng trời Nghệ An, sau đó dẫn máy bay ta trở về căn cứ an toàn.


Kinh nghiệm đó được phổ biến cho toàn binh chủng ra-đa học tập, vận dụng trong tháng 11 và 12 năm 1968, dẫn đường cho không quân ta hạ máy bay Mỹ trên vùng trời Nghệ An.


Ngày 22 tháng 7 năm 1966, Vũ Ngọc Diệu bị thương vào tay trong lúc địch đánh phá. Cõng bạn bị thương nặng ra khỏi trận địa, đồng chí trở lại vị trí chiến đấu, dùng một tay tiếp tục làm nhiệm vụ cùng đồng đội. Địch đánh vào trận địa 10 lần, Vũ Ngọc Diệu vẫn bình tĩnh, dũng cảm bám máy, theo dõi mục tiêu, báo cáo kịp thời, chính xác, hoàn thành nhiệm vụ.


Trong 3 năm, đồng chí công tác ở ba loại máy khác nhau, nhờ có quyết tâm học tập, đi sâu nghiên cứu kỹ thuật, nên máy nào cũng sử dụng thành thạo, phát huy được hết tính năng, tác dụng của máy phục vụ chiến đấu.


Vũ Ngọc Diệu luôn luôn gương mẫu, dũng cảm, mưu trí, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, có tinh thần đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể, có ý thức tổ chức, kỷ luật nghiêm, được anh em yêu mến.


Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng ba, 2 bằng khen, 2 giấy khen, 2 năm liền là Chiến sĩ thi đua, năm 1968 được tặng danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng.


Ngày 22 tháng 12 năm 1969, Vũ Ngọc Diệu được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn