Bài viết

Vũ Trung Tính – người ngắm sao dò đường qua 18 chuyến tàu Không số

Ninh Bình26/08/2026Xã Sơn Linh (Đoàn xã Sơn Linh)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Vũ Trung Tính – người ngắm sao dò đường qua 18 chuyến tàu Không số

Giữa biển đêm, khi không được bật đèn và thiết bị hàng hải còn hạn chế, các thủy thủ Đoàn tàu Không số phải dựa vào la bàn, hải đồ, kinh nghiệm về dòng chảy và những vì sao để xác định hướng đi. Trung tá Vũ Trung Tính là một trong những người làm công việc đặc biệt ấy. Ông được đồng đội nhắc đến với tên gọi “người ngắm sao trời dò đường đi”, đã cùng đơn vị thực hiện thành công 18 chuyến vượt biển từ Bắc vào Nam.

Vũ Trung Tính quê ở Thanh Hóa. Năm 19 tuổi, ông tốt nghiệp Khóa 2 Trường Trung cấp Hàng hải tại Hải Phòng, sau đó công tác tại Xí nghiệp đánh cá Ninh Cơ, tỉnh Nam Định. Từ môi trường lao động trên biển, ông có nền tảng về hàng hải, sức khỏe tốt và bơi lội giỏi.

Khi Tổ quốc cần, Vũ Trung Tính tình nguyện nhập ngũ vào Quân chủng Hải quân. Tháng 2-1964, ông được tuyển vào Trung đoàn 170 để huấn luyện. Chưa kết thúc thời gian huấn luyện chiến sĩ mới tại Quảng Yên, Quảng Ninh, ông đã được bổ sung về Đoàn 125 đang đóng quân ở Hải Phòng, làm nhiệm vụ vận chuyển vũ khí bí mật chi viện chiến trường miền Nam.

Ông được biên chế về Tàu 42 ở vị trí hàng hải số 1. Công việc của ông là tác nghiệp trên hải đồ, xử lý số liệu la bàn, sử dụng máy đo thiên văn và giúp chỉ huy xác định đường đi. Đối với một con tàu phải xóa số hiệu, cải dạng như tàu đánh cá và hoạt động độc lập, một sai lệch nhỏ về hướng cũng có thể đưa cả tàu vào vùng đối phương kiểm soát hoặc mắc cạn trên bãi san hô.

Chỉ sau hai tháng làm quen với tàu, tháng 6-1964, Vũ Trung Tính thực hiện chuyến đi đầu tiên trên Tàu 42. Thuyền trưởng là Nguyễn Văn Cứng, Chính trị viên là Trần Ngọc Ẩn. Trước khi xuất phát, cán bộ, chiến sĩ được quán triệt rằng mỗi chuyến đi đều có thể “một đi không trở về”. Dù vậy, toàn tàu vẫn bình tĩnh nhận nhiệm vụ.

Từ tháng 6-1964 đến cuối năm 1970, Vũ Trung Tính trưởng thành từ thủy thủ hàng hải lên thuyền trưởng. Trong thời gian đó, ông cùng đồng đội hoàn thành 18 chuyến vào Cà Mau an toàn. Ngoài một chuyến trinh sát, trung bình mỗi chuyến tàu chở khoảng 60 tấn vũ khí và hàng hóa. Tổng khối lượng qua các hành trình lên tới hàng nghìn tấn, được đưa tới những chiến trường mà tuyến vận tải đường bộ chưa thể vươn tới.

Khó khăn lớn nhất xuất hiện sau sự kiện Vũng Rô tháng 2-1965. Khi tuyến vận chuyển bí mật bị phát hiện, đối phương tăng cường tàu chiến, máy bay trinh sát và hệ thống kiểm soát ven biển. Từ tháng 2 đến tháng 9-1965, bốn chuyến tàu được tổ chức thì ba chuyến không thành công, một chuyến phải quay lại bến xuất phát. Đường chi viện trên biển có nguy cơ bị chia cắt.

Trước tình hình ấy, cấp trên yêu cầu Đoàn 125 nghiên cứu một đường đi mới. Tàu 42 được củng cố lực lượng để nhận nhiệm vụ mở lại tuyến. Thay vì bám ven bờ như trước, tàu đi vòng ra vùng biển quốc tế, kéo dài hành trình nhưng giảm nguy cơ bị nhận diện. Vũ Trung Tính khi ấy là Thuyền phó hàng hải, giữ vai trò quan trọng trong việc xác định đường đi.

Trên biển, con tàu không thể để lộ mục tiêu thật. Ban ngày, tàu ngụy trang như đang đánh cá; ban đêm mới tranh thủ hành trình. Khi cần, các thủy thủ dùng vị trí sao trời để đối chiếu với la bàn và hải đồ. Mây mù, giông bão hoặc dòng chảy thay đổi đều có thể làm kết quả sai lệch, đòi hỏi người phụ trách hàng hải phải tỉnh táo và giàu kinh nghiệm.

Có lần, Tàu 42 gặp tàu chiến đối phương ở tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Chỉ huy tàu nhanh chóng hội ý, cho toàn bộ thủy thủ vào vị trí chiến đấu, nạp đạn các loại vũ khí và gắn kíp vào bộc phá tại khoang hàng, khoang máy, khoang buồm. Nếu bị phát hiện, họ sẵn sàng hủy tàu để bảo vệ bí mật của tuyến đường.

Bằng sự bình tĩnh, cách ngụy trang hợp lý và phương án chuyển hướng khôn khéo, Tàu 42 thoát khỏi sự kiểm tra. Sau tám tháng vắng bóng những chuyến tàu từ miền Bắc, đêm 24-10-1965, con tàu với 16 thành viên hoàn thành sứ mệnh mở đường mới, đưa 60 tấn hàng, trong đó có bốn quả thủy lôi MKB, vào chiến trường miền Nam.

Thành công ấy không chỉ nằm ở số hàng được giao. Quan trọng hơn, chuyến đi chứng minh rằng tuyến vận tải chiến lược trên biển vẫn có thể tiếp tục hoạt động trong điều kiện bị phong tỏa. Kinh nghiệm về đường đi, cách ngụ trang và xử trí khi gặp đối phương trở thành cơ sở cho những chuyến tàu sau.

Trong các hành trình, Vũ Trung Tính trải qua cả tàu gỗ, tàu sắt, sóng lớn, bão mạnh và những cuộc vây ráp. Trước mỗi chuyến đi, cán bộ kỹ thuật kiểm tra tỉ mỉ máy tàu, hệ thống điện, chân vịt, vũ khí và phương tiện hàng hải. Sau khi tàu trở về, mọi chi tiết lại được bảo dưỡng để chuẩn bị cho nhiệm vụ kế tiếp. Với lực lượng nhỏ, mỗi người không chỉ giỏi chuyên môn chính mà còn phải biết thay thế vị trí của đồng đội khi cần.

Tháng 7-1969, Tàu 42 tiếp tục được giao một chuyến trinh sát đặc biệt. Nhiệm vụ là tìm đường vận chuyển mới, nghiên cứu một số đảo để đặt bến trung chuyển và chuẩn bị nối lại tuyến chi viện sau thời gian tạm ngừng. Những người thực hiện phải vừa quan sát hoạt động của đối phương, vừa giữ kín thân phận trong suốt hành trình.

Trong bảy năm làm nhiệm vụ ở Đoàn tàu Không số, Vũ Trung Tính phục vụ trên ba tàu; hai trong số đó sau này được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ông từng được công nhận Chiến sĩ thi đua ngay trên tàu và báo cáo điển hình tại hội nghị mừng công của Đoàn 125.

Năm 1970, ông được cử đi học tại Liên Xô. Sau đó, ông tiếp tục tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh và chiến đấu bảo vệ vùng biển Tây Nam khi chiến tranh biên giới Tây Nam xảy ra. Hơn ba mươi năm quân ngũ, ông đảm nhiệm nhiều cương vị, nhưng luôn xem bảy năm cùng những con tàu không số là quãng đời có ý nghĩa đặc biệt nhất.

Năm 1991, Vũ Trung Tính nghỉ hưu với quân hàm Trung tá, trở về quê tại Hải Ninh, Tĩnh Gia, Thanh Hóa. Ông tiếp tục làm Bí thư chi bộ, rồi Bí thư Đảng ủy xã. Sau 15 năm công tác ở địa phương, ông mới nghỉ và tham gia kết nối các cựu chiến binh Đường Hồ Chí Minh trên biển, giữ vai trò Chủ tịch Hội truyền thống của tỉnh Thanh Hóa.

Câu chuyện của Vũ Trung Tính cho thấy chiến công trên biển được tạo nên từ lòng dũng cảm và cả tri thức nghề nghiệp chính xác. Một đường bút chì trên hải đồ, một số đo thiên văn hay quyết định chuyển hướng đúng lúc có thể bảo vệ cả con tàu. Mười tám chuyến đi an toàn của ông và đồng đội là minh chứng về bản lĩnh, kỷ luật và trí tuệ của những người đã âm thầm giữ thông suốt con đường chiến lược trên biển.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn